Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013



Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 170 phát hành ngày 01-05-2013,
- Bài xã luận của bán nguyệt san.
Xin cảm ơn Quý vị đã đón nhận và tiếp tay phổ biến, nhất là phổ biến ngược về trong nước cho Đồng bào thân yêu.
Ban biên tập báo TDNL
 
 
Mù quáng đến bao giờ nữa ???
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 170 (01-05-2013)
            Chí minh (từ Hán Việt) có nghĩa là rất sáng suốt. Oái oăm và mỉa mai thay, kẻ mang tên đó lại mở đầu cho một chuỗi dài mù quáng (đến tận hôm nay) nơi bản thân ông, đồng đảng ông và nơi một số thành phần trong Dân tộc.
            1- Mù quáng vì cuồng tín
            Quả thế, năm 1920, sau khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, chàng thanh niên ít học Nguyễn Ái Quốc (tên mạo nhận của Nguyễn Tất Thành) đã hoàn toàn tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, nhất là vào đường lối dùng bạo lực để giành lấy độc lập cho dân tộc. Anh ta không biết rằng trước đó một năm, tại Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Hoa Kỳ Wilson đã đề xướng quyền Dân tộc Tự quyết và khuyến cáo các Đế quốc Tây Phương hãy từng bước trả tự trị và độc lập cho các nước Á Phi thuộc địa. Hưởng ứng khuyến cáo này, cũng trong năm 1919, Anh Quốc đã trả độc lập cho Canada và A Phú Hãn. Năm 1936, Pháp trao trả quyền tự trị cho Syria và Lebanon, Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây Phương Mỹ, Pháp, Anh, Hà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 nước thuộc địa và bảo hộ tại châu Á (trong đó có cả Việt Nam, qua hoàng đế Bảo Đại).
            Tháng 6-1923, đến Moskva theo học Đại học Lao động CS Phương đông, Nguyễn Ái Quốc được đào tạo chính quy về chủ nghĩa Marx, kỹ thuật tuyên truyền lẫn khởi nghĩa vũ trang, và trở nên thành viên Đệ tam Quốc tế. Kể từ đó cho đến năm 1954, tay gián điệp mạo danh “nhà cách mạng” này đã cùng với đồng đảng làm hao tổn xương máu của hàng vạn đồng bào và tài nguyên vô số của tổ quốc để trả cái giá “giành lại độc lập cho nước” (thực chất là giành lấy độc quyền cho đảng), đang khi các quốc gia lân bang cũng đã đạt được điều đó mà hoàn toàn “miễn phí”!
            Nhưng độc lập ấy (cho miền Bắc) chỉ là giả hiệu, vì Hồ Chí Minh ngay sau đó đã mù quáng tròng lên dân tộc hai cái ách khác: Nga cộng và Tàu cộng. Coi Stalin và Mao là những vị thầy bất khả ngộ, chủ nghĩa Mác-Lê là con đường tốt đẹp xây dựng đất nước, sự thống lĩnh tuyệt đối của đảng CS trên phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa là điều tối thượng, việc bành trướng chế độ xã hội chủ nghĩa cách mạng ra toàn thế giới là lý tưởng sống, Hồ Chí Minh đã tiếp tục mở ra những cuộc chiến đẫm máu khác nhắm vào Dân tộc: nào Cải cách ruộng đất giết nông gia giỏi và nhân sĩ uy tín, tàn phá đạo đức gia đình và cơ cấu làng xã, để cướp mọi tài nguyên vào tay đảng, buộc mọi nhân tâm quy về đảng; nào trấn áp hàng vạn trí thức, nghệ sĩ qua vụ “Nhân văn Giai phẩm” để chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao thống trị trong tâm trí giới tinh hoa của Dân tộc; nào “Giải phóng miền Nam” để chiến đấu cho LX và TQ, bành trướng chế độ CS xuống Đông Nam Á, với cái giá của hàng triệu binh lính lẫn đồng bào hai miền Bắc Nam và sự tan hoang của toàn thể đất nước. Đang khi những đồng chí của HCM ở Bắc Hàn và Đông Đức đã không dại gì mà “giải phóng”, gây tổn hại cho ruột thịt của họ tại nửa nước đang ở dưới “ách cai trị của tư bản chủ nghĩa”!!
            Sự mù quáng do cuồng tín vào chủ nghĩa CS, vào tình quốc tế vô sản, nhất là vào đàn anh Tàu cộng đó -từng biểu lộ qua việc ký công hàm bán nước năm 1958, việc im thin thít khi Hoàng Sa bị xâm lăng năm 1974, một phần Trường Sa bị chiếm đoạt năm 1988 (nghĩ rằng anh em giữ cho nhau và sẽ trả cho nhau)- vẫn còn tiếp tục đến hôm nay nơi hậu duệ của Hồ qua hai hiệp định nhường đất và biển cho Tàu cộng năm 1999 rồi 2000, qua việc tuân thủ triền miên khẩu hiệu “16 chữ vàng, 4 chữ tốt”, qua niềm xác tín “việc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại nước ta sẽ thuận lợi nhờ cận kề đại quốc xã hội chủ nghĩa” (lời Nguyễn Chí Vịnh)… đang khi kẻ thù truyền kiếp này chực chờ xâm chiếm Việt Nam tự ngoài biển và ngay trong lãnh thổ.
            2- Mù quáng vì thù hận
            Chiếm được miền Nam xong, nơi người Cộng sản nổi rõ lên một sự mù quáng thứ hai, đó là mù quáng vì thù hận. Học đòi quan niệm cuộc sống là “đấu tranh sinh tồn” (một quan niệm ngu xuẩn và tai hại của Darwin -vì đúng ra là “tương trợ sinh tồn”), Lênin rồi các đồ đệ (trong đó có HCM) đã chủ trương chính trị là “đấu tranh giai cấp”, là phải chia thế giới thành hai phe sống mái: Tư bản và CS, là phải phân biệt loài người có hai hạng đối đầu: anh em bạn bè là hạng lụy phục chế độ CS và người dưng thù địch là hạng chống lại nó, dù họ đồng chủng. Thành ra sau biến cố tháng 4-1975, lòng thù hận CS được thả lỏng. Thật ra trước đó nó đã được buông cương tại miền Nam rồi, qua việc tàn sát các viên chức hành chánh, việc pháo kích các khu dân cư, gài mìn đường sắt đường bộ, nhất là qua cuộc thảm sát dân lành tết Mậu Thân 1968. Nhưng chính sau tháng 4 đen, người ta mới thấy thế nào là tâm địa của những kẻ tự vỗ ngực là “quân giải phóng”: cướp tài sản và đuổi khỏi nhà hàng vạn gia đình “ngụy quân ngụy quyền”, tập trung “cải tạo” gần một triệu quân cán chính VNCH bị chụp mũ là “có nợ máu với Cách mạng”, chặn đường học hành, tiến thân và sinh sống của thân nhân con cái họ. Lòng thù hận này còn tràn sang cả với người dân miền Nam vốn sung túc hơn, văn hóa hơn, nhờ đã có hơn 20 hưởng một chế độ tự do dân chủ dù còn non trẻ. Từ đó đã khiến hàng loạt người dân phải bỏ chạy khỏi quê hương mình, đến nỗi Uwe Siemon-Netto, một nhà báo người Đức từng hoạt động tại Việt Nam phải thốt lên: “Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ 1 triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn... Ðã có khoảng 164.000 thường dân miền Nam bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản thời kỳ 1954-1975" (trích bài viết: Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng).
            Nào đã hết đâu. Lòng thù hận CS nay trút lên thành phần mà họ gọi là "phản động". Hàng ngàn, thậm chí hàng vạn chiến sĩ của tự do nhân quyền, từ phong trào phục quốc thế kỷ trước đến phong trào tranh đấu thế kỷ nay, những tinh hoa thật sự của đất nước, đang cùng với gia đình họ (tới tận con cháu) là đối tượng của những biện pháp trả thù đê hèn và tàn bạo như sách nhiễu cuộc sống, phong tỏa kinh tế, bôi nhọ thanh danh, hành hung thân thể và giam cầm tống ngục. Các tôn giáo cũng không nằm ngoài tầm ngắm của cái chế độ vô thần, vốn luôn căm ghét những thực thể cao cả linh thiêng và thù hận những thế lực tinh thần dám vạch trần những sai lầm và tội ác của nó. Ngày trước chuyên dùng bạo lực vũ khí, nay nó sử dụng bạo lực hành chánh (Pháp lệnh và Nghị định về tín ngưỡng tôn giáo) để làm cái rọ nhốt các Giáo hội, hầu nó mặc sức tung hoành.
            Lòng thù hận mù quáng đó tựu trung chỉ làm tiêu hao sinh lực của giống nòi và đe dọa sinh mệnh của Tổ quốc. Nhưng CS làm gì có Tổ quốc VN! Họ chỉ có Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thôi!
            3- Mù quáng vì tham lam
            Ở đây phải nói là tham quyền và tham tiền. Tham quyền đương nhiên nằm trong máu di truyền của CS, bởi lẽ đó là một chế độ độc tài, độc tôn, độc đảng. Từ năm 1917 (cách mạng Nga) đến nay, có khi nào CS chia quyền, nhường ghế cho ai đâu, trừ khi bị dồn vào chân tường hay bị hất khỏi ngai vàng thống trị (như các năm 1989-1991 bên Liên Xô và Đông Âu).
            Bị mọi tầng lớp nhân dân VN ngày càng đứng lên chất vấn và thậm chí đe dọa quyền lực độc tôn của mình, ngoài việc trấn áp thô bạo các cá nhân, tổ chức và phong trào đấu tranh, nay CS muốn chính danh hóa, hiến pháp hóa, luật lệ hóa mãi mãi sự thống trị của mình (qua điều 4 về đảng duy nhất lãnh đạo, điều 70 về quân đội tuyệt đối trung thành với đảng...). Cuộc lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang tiến hành thực chất chỉ là một cuộc cưỡng bức toàn dân đồng thuận với cái Cương lĩnh đó của đảng. Qua đủ thứ trò gian manh và lố bịch, hao sức và tốn thuế: nào là mạ lỵ hăm dọa mọi công dân đấu tranh đòi biên soạn một Hiến pháp mới (Nhóm trí thức 72, Các Công dân tự do, Hội đồng Giám mục, các Giáo hội Tin lành, Phật giáo, Hòa hảo...) qua báo đài công cụ, dư luận viên chó săn, cán bộ đảng viên đầy tớ, trí nô ký sinh trong các học viện và đại học... nào là đem cái đảng pháp (tức HP giả hiệu) tới tận từng hộ dân bắt ký đồng thuận với lời hăm dọa.... nào là khước từ đăng trên phương tiện thông tin đại chúng các ý kiến bất đồng với đảng... nào là nói khống có tới 40-50 triệu ý kiến đồng thuận với HP của Quốc hội.
            Việc tham tiền của thì nhân dân đã thấy ngay từ Cải cách Ruộng đất thu điền thổ vào tay đảng, rồi sau cuộc "chiến thắng" tháng 4-1975 với hiện tượng "vào vội vã vơ vét về". Lòng tham lam vô độ này còn bộc lộ từ sau năm 1985, lúc đảng mở cửa kinh tế, cho đảng viên, công an, quân đội được phép làm giàu (với quyền thế trong tay lẫn ưu thế nhờ đảng, ba hạng này đã phất lên nhanh chóng, lấn lướt đè bẹp mọi doanh nghiệp tư). Với luật đất đai 1993 tước mọi ruộng đất khỏi tay toàn dân để đảng trở thành địa chủ độc nhất, lòng tham này lại bùng phát hơn nữa. Mới đây, hôm 24-04, cái gọi là "Hội nghị tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội VN về dự án sửa Luật Đất đai" vẫn kết luận cần duy trì chế độ ‘sở hữu toàn dân’ do Nhà nước làm đại diện và chủ động quyết định cách dùng quỹ đất. Đám gia nô mù quáng này đúng là đã làm theo ý đảng bày tỏ trong Dự thảo HP điều 57. Chính sách quản lý thị trường vàng hiện giờ (bị chỉ trích sau bài báo của Thanh Niên) và dư luận về một cuộc đổi tiền sắp tới (vì siêu lạm phát, vì nguy cơ vỡ nợ của ngân hàng, vì ngân hàng đang có nợ xấu cực khủng) chỉ bộc lộ thêm lòng tham lam vô độ của đảng.
            Mù quáng vì cuồng tín chủ nghĩa, vì thù hận đối nghịch, vì tham quyền hám của, đó chính là bản chất bất biến, căn bệnh khó lành của CS. Đó cũng là vấn đề khôn giải của đất nước nếu chủ nghĩa và chế độ CS không bị loại khỏi lịch sử loài người và lịch sử dân tộc.
            BAN BIÊN TẬP

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét