Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Kỳ 27: Học nội quy trại giam.
          Nhập trại được khoảng 1 ngày, tôi được một người công an dẫn tới bệnh xá của trại để gọi là: "Kiểm tra sức khỏe" . Viên công an mang hàm đại ủy hỏi tên tuổi của tôi rồi ghi vào sổ, sau đó dẫn tôi sang phòng bên cho một cô gái đo huyết áp, đo xong lại dẫn tôi tới gặp một cô gái khác bảo tôi ký vào một quyển sổ dày có ghi danh sách những tù nhân khám sức khỏe. Họ bảo tôi ký tên vào sổ; vì sổ này họ dùng để báo cáo với cấp trên rằng các tù nhân nhập trại đều được kiểm tra, chăm sóc sức khỏe. Họ lại dẫn tôi về buồng giam. Ngày hôm sau trực trại tên Chanh lại tới gọi tôi mặc quân áo dài để đi học nội quy trại giam. Tôi đi theo viên công an này tới gần cổng trại, vào một căn nhà 2 gian gọi là "Nhà Văn Hóa".
Tại đây tôi thấy có khoảng 20 tù nhân chưa mặc áo tù, giống như tôi. Chúng tôi được tập trung vào một căn phòng, có một tù nhân tên là Trung, còn gọi là Trung Văn hóa, một người tù khác tên là Dũng; hai người này phụ trách lớp học nội quy trại giam. Có một công an tên là Hồng quản lý lớp học, nhưng anh ta không trực tiếp hướng dẫn dạy nội quy gì cả. Giao lớp học lại cho Trung và Dũng hướng dẫn; Viên công an này đi đâu không rõ. Tù nhân tên Trung ngồi trên bàn giáo viên, tù nhân tên Dũng thì hướng dẫn các "học viên" cách điền tên vào một tờ giây gọi là danh sách các phạm nhân tham gia học nội quý ngày…tháng… Nói là đi học nhưng thức ra chẳng học hành gì cả. người tù tên Trung chỉ làm cái việc uy hiếp những tù nhân mới tới bằng những lời răn đe và bày cách cho họ biết làm sao có lợi cho cán bộ, "hướng dẫn" cách chạy đội, chạy buồng… Hết một buổi sáng học nội quy nhưng tôi chẳng học được thứ gì vì thực ra họ không dạy nội quy. Ngày hôm sau tôi lại được gọi đi học nội quy.  Viên công an tên Hồng lại giao cho tù nhân tên Trung một tập giấy, bảo anh ta đọc cho chúng tôi nghe một số nhưng quy định của trại giam. Tù nhân Trung đọc xong một lượt rồi phát cho mỗi người chúng tôi một tờ giấy có in dòng chữ: Bài thu hoạch sau khóa học nội quy trại giam.
Người công an tên Hồng bảo chúng tôi ghi vào đó rằng đã được tham gia 1 tuần học nội quy và nắm rõ những quy định trại giam.
Mặt sau của trang giấy có in dòng chữ gì đó tôi không nhớ, nhưng đại khái là phần tự đánh giá của bản thân và lời hứa cam kết thực hiện đúng nội quy của trại giam cùng những  gì gì đó. Tôi cầm tờ giấy trên tay lật đi lật lại xem rồi dơ tay xin ý kiến: Công an Hồng cho phép tôi được nói.
Tôi nói: Thưa cán bộ chúng tôi mới tham gia khóa học 2 buổi sao lại bảo chúng tôi ghi là một tuần, hơn nữa trên thực tế chúng tôi chỉ mới được nghe đọc qua một lần làm sao nhơ nổi. Tôi xin trả lại giấy này cho cán bộ, tôi sẽ không làm bài và không cam kết gì cả, bởi lẽ tôi thấy làm thế này là không trung thực.
Cán bộ Hồng hỏi tôi: Anh tên gì? Tội gì?
Tôi trả lời: Thưa cán bộ! Tên tôi là Nguyễn Trung Tôn, tôi bị kết án theo điều 88 bộ luật hình sự, nhưng tôi khẳng định tôi không có tôi.
Cán bộ Hồng nói: Anh ngồi xuống chút nữa tôi sẽ làm việc riêng với anh.
Tôi bị tách ra khỏi phòng học. Một lát sau cán bộ Hồng cho người gọi tôi tới gặp anh ta:
Cán bộ Hồng nói: Tôi nói cho anh biết, ở ngoài đời anh như thế nào tôi không biết, nhưng anh đã vào đây thì anh phải có nghĩa vụ tuân thủ những hướng dẫn của cán bộ.
Tôi trả lời: Tôi đồng ý là phải tuân thủ những quy định của trại giam và cán bộ, nhưng không có nghĩa là tôi lại làm dối tra vào bản thu hoạch được.  Sao mới tham gia 2 buổi mà lại bảo chúng tôi ghi một tuần? Hơn nữa tôi chẳng có tội tình gì, nên tôi cũng chẳng cần phải cầu xin sự khoan hồng gì cả.
Cán bộ Hồng nói: Anh nhận tội hay không là việc của anh ở trước tòa án, chúng tôi là người quản lý anh theo bản án của tòa. Anh đã vào đây thì anh phải chấp nhận. Đặc biệt tôi cho anh biết nếu anh lợi dụng để tuyên truyền tư tưởng phản động của anh cho những tù nhân khác thì anh có thể còn bị bắt và xét xử thêm án mới đấy! Thôi anh về buồng đi.
Tôi đứng dạy đi theo một công an khác trở về buồng giam.
Về buồng giam tôi đem chuyện học nội quy nói với vài anh em và hỏi xem trước đây, khi vào trại họ có được học nội quy cách chu đáo không?
Một tù nhân người Tây nguyên tên là Y Thớt cho tôi biết: Ai cũng vậy thôi vào đây đều phải đi học nội quy theo quy định, nhưng chỉ học một ngày hay 2 ngày gì đó thôi, quy định là 1 tuần học nội quy, nhưng cán bộ họ ăn bớt thời gian để còn kiếm tiền. Các tù nhân hàng năm đều bị kiểm tra đột xuất về nội quy, nếu bất ngờ đoàn kiểm tra hỏi ai về một điều nào đó mà người đó không thuộc thì năm đó tù nhân đó không được xếp loại khá trở lên thì coi như mất giảm án.
Tôi hỏi: Họ có dạy đâu mà bảo rằng tù nhân phải thuộc?
Y Thớt nói: Phải tự chép lại từng điều mà học tranh thủ chứ. Nhiều người vào tù không biết chữ, một năm đi học lớp xóa mù đâu được 5 hay 10 buổi, thế mà cuối năm vẫn phải làm bài kiểm tra để báo cáo thánh tích của trại.
Tôi hỏi: Mỗi năm học có mấy buổi thì sao xóa được mù chữ hả anh?
Y Thớt nói: Thì bên ban giáo dục họ giao cho mấy thằng tù phụ trách lớp, khi kiểm tra chúng viết thay cho những người học xóa mù. Học đi học lại mấy chữ A,B, C thôi mà. Ở buồng này có thằng Sồng đấy ( Y Thớt chỉ về phía một tù nhân) Nó vào trại này mấy năm rồi nó không biết chữ nào, học trên ban giáo giục mấy buổi cuối năm nó vẫn phải nộp bài thi. Nhưng Sồng nó chịu khó lắm, tôi nào nó cùng nhờ người chỉ cho nó cách học, nó mang Kinh thánh ra chép lại từng đoạn một để tập viết rồi tập đọc, bây giờ nó đọc Kinh thánh được rồi đấy.
          Ở buồng giam số 2 trại giam Ba Sao Hà Nam vào thời điểm tôi ở đó có khoảng 10 tù nhân người Tây Nguyên và 7 người HMoong quê Tây Bắc, hầu hết họ đều theo đạo Tin lành, họ sống thật thà hiền lành, khiêm tốn và trong số họ có rất nhiều người nói tiếng Việt còn chưa thạo. Tuy là người dân tộc thiểu số, nhưng những năm tháng tù đầy cũng đã trang bị cho họ những kỷ năng sống để tự bảo vệ bản thân trước những quy định hà khắc và sự gian manh mánh lới của những cán bộ trại giam và những tù nhân hình sự lưu manh.
Tôi không học được gì từ những buổi học nội quy do trại giam tổ chức, nhưng lại học được rất nhiều bài học giá trị từ những người bạn tù thân thiện.
"Còn nữa"

Thanh hóa ngày 27/06/2016

Nguyễn Trung Tôn

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Ky1 tới kỳ 26


Những bài học trong chốn lao tù

Kỳ 1- Bị bắt tạm giữ điều tra.
Ra khỏi nhà tù Cộng sản được hơn một năm nay; bận rộn với cuộc sống gia đình nên tôi cũng không có thời gian để viết lại những câu chuyện mà tôi đã trải qua trong nhà tù. Hôm nay lưng tôi bị đau do bệnh thoái hóa đốt sống lại hành hạ. Nằm trên giường suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và tương lai của bản thân gia đình và đất nước. Những ký ức chốn lao tù bỗng trở lại trong tôi. Tôi cố ngồi dạy ghi lại những sự kiện đáng nhớ của mình làm lưu niệm cho bản thân và những ai muốn tìm hiểu về một phần xã hội Việt Nam hiện tại ở chốn nhà giam.
Sáng ngày 15/1/2011, tôi bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nam Đàn và Cơ quan an ninh điều tra tỉnh Nghệ an bắt về công an huyện Nam Đàn với lý do không đăng ký tạm trú qua đêm. Khi về tới Công an huyện thì họ không hề đề cập gì tới việc tôi qua đêm mà không đăng ký tạm trú.` Họ tiến hành lấy lời khai của tôi cho tới 21h đêm thì trao cho tôi một lệnh tạm giữ với thời hạn 3 ngày. Tôi ngơ ngác, không hiểu lý do gì mà tôi bị tạm giữ? Bởi lẽ qua một ngày Công an lấy lời khai của tôi, tôi đâu có gì để mà khai với họ, ngoài việc tôi vào Nghệ an để đón cháu Đức con chị Hồ Thị Bích Khương ra nhà tôi để đi học tiếp vì cháu về quê thăm bà nội vào dịp nghỉ học cuối kỳ. Tôi không làm gì vi phạm luật pháp tại Nghệ An. Tôi được một chiến sỹ Cảnh sát mang hàm trung sĩ, tên Hà dẫn vào buồng giam.
Tôi hỏi Hà: Công tắc điện buồng ở đâu? Lối đi vệ sinh chỗ nào?
Cậu ta mở cửa đẩy tôi vào trong và nói: Cứ vào sẽ biết.
Cánh cửa buồng giam đóng lại. Trời tối như mực, một mình một buồng giam và lúc đó đã khoảng 21h 30 nên các tù nhân ở các buồng khác đã phải đi ngủ. Tôi mò mẫm lấy tay để lần xem đâu là nơi nằm, nơi đi vệ sinh. Vì buồng giam không dược lắp điện, tôi phải sử dụng hết tất cả các giác quan của mình để biết chỗ năm là một bục xi măng cáo khoảng 50 cm. Hạ lưng xuống nền xi măng lạnh buốt lưng, với thời tiết gần tết nhiệt độ xuống khoảng 9 hay 10 độ c. Lạnh quá không chịu nỗi. Tôi đứng ra gần cửa hé mắt ra khe hở của cánh cửa sắt buồng giam và gọi lớn “Chú Hà ơi mang cho anh cái chăn để đắp chứ, lạnh thế này anh không chịu được”.
Một lát sau cậu Hà mang cho tôi một cái ruột chăn bông cũ. Cậu bảo tôi: “Anh đắp tạm cái này, nếu lạnh thì mai tôi đưa thêm”. Đêm đầu tiên ở tù tuy hơi lạnh, nhưng tôi vẫn ngủ rất ngon, bởi sau một ngày bị công an thay nhau xét hỏi. Sáng hôm sau là Chúa nhật nên vừa mới mờ sáng tôi đã tỉnh dậy và cầu nguyện, tôi hy vọng rằng hết 3 ngày tạm giữ thì công an sẽ phải thả mình ra. Rồi cứ thế thời gian trôi qua cũng thật nhanh. Chiều ngày 17/1 tức ngày thứ 2 trong tuần. Tôi thấy họ mở buồng giam và đưa tôi lên phòng lấy cung. Tại đây họ cho tôi xem những thứ mà họ đã thu giữ của gia đình tôi vào sáng ngày hôm đó. Gồm máy tính, băng đĩa, máy in và nhiều vật dung khác. Họ bắt đầu khai thác máy tính của tôi. In các bài viết của tôi có trong máy tính và yêu cầu tôi ký vào. Tôi đồng ý ký tên vào những bài viết đó vì đấy đúng là những bài tôi đã viết. Sau khi lấy ra hàng loạt bài viết và kiểm tra nội dung hơn 200 đĩa DVD, VCD thu giữ tại nhà tôi xong. Họ tiếp tục trao cho tôi một lệnh tạm giữ thứ 2 với thời hạn 3 ngày rồi tiếp tục đưa tôi trở lại buồng giam. Tôi không còn bỡ ngỡ như trước nữa vì đã “quen” với buồng giam này.
Thấm thoát thời gian trôi, chiều ngày 22/1 Cơ quan CSĐT huyện Nam Đàn dùng xe của cơ quan đưa tôi và chị Hồ Thị Bích Khương xuống Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Lần đầu tiên trong đời tôi bị Công an dùng Còng số 8 còng tay lại. Tôi không biết rằng thế là tôi chuẩn bị tới một môi trường sống mới. Tới cổng trại giam Công an bắt chúng tôi ngồi đợi mãi cho tới khi một Trung tá an ninh điều tra tỉnh Nghệ An, tên là Văn, mang tới và đưa cho chúng tôi ký vào quyết định khởi tố của họ đối với chúng tôi. Tôi xem quyết định đó thì biết là mình bị khởi tố theo điều 88 của BLHS. Tôi vui vẻ ký vào mà không hề phản đối gì, còn chị Hồ Thị Bích Khương thì cương quyết không ký. Tuy nhiên dù ký hay không thì họ vẫn cứ giam. Trời sắp tối tôi được một đại úy quản giáo tên Nguyễn Văn Thành dẫn từ cổng trại vào nhà giam. Đi cùng với quản giáo này có thượng sĩ Vi Văn Sơn, cán bộ phụ trực trại. Tôi phải đi trước họ một mét họ đi sau và thúc giục đi nhanh lên.
Quãng đường từ cổng trại vào buồng giam không xa, nhưng cũng đủ để tôi vừa đi vừa ngắm quang cảnh xung quanh lúc hoang hôn với những cành cây trơ trụ lá vì tiết trời giá lạnh. Nhưng những cành cây đó đang lu lú những búp non để đón chờ mùa xuân sắp tới. Không gian đó làm cho tôi có thêm nghị lực và ấp ủ những tia hy vọng cho Việt Nam một ngày mai tươi sáng. Tiếng thượng uy Vi Văn Sơn cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi: “Đi nhanh lên! Ông đá chết mẹ mày bây giờ” Thú thật lần đầu tiên tôi bị công an quát mắng như vậy. Tôi giật mình và bước nhanh hơn tới nhà giam A la. Quản giáo Nguyễn Văn Thành mở cửa buồng giam số 9  đưa tôi vào đó. Quản giáo dặn với vào: “Giao cho Toàn thằng này nhé! Chỉ dẫn cho nó!”
Cánh cửa buồng giam đóng lại, tôi bước vào buồng giam. Đập vào mắt tôi là 3 người tù đầu cắt trọc, họ nhìn tôi chăm chăm. Xác định họ ít tuổi hơn mình nên tôi cất tiếng “Chào các chú”.
Một người trong bọn họ hỏi tôi: “Mày chào ai vậy? Chưa bao giờ đi tù à?”
Tôi bảo: “Chưa! Tôi bị bắt lần đầu.”
Người này nói tiếp: Thằng Rùa lấy cho nó bộ quần áo cho nó thay đi. Thằng này mày đi tắm đi rồi thay quần áo lên đây tao nói chuyện.
Cảm giác có chuyện chẳng lành, tôi nói: “Thôi ạ trời lạnh lắm, để trưa mai ấm hơn tôi sẽ tắm”.
Người này nói tiếp: “lạnh cũng phải tắm, ở tù mà không tắm rửa sạch sẽ thì ghẻ lở không chịu được đâu”.
Biết không thể từ chối nên tôi đành phải tắm. Tôi cởi quần áo ra tắm, nhưng vẫn mặc quần lót như ở nhà. Cậu ta nói: “Cởi hết ra! Trong này toàn đàn ông cả phải cởi truồng mà tắm. Tắm xong quạt người cho khô mới mặc quần áo, nếu không sẽ bị hâm và lở loét đấy.”
Tôi nghe theo họ, cởi hết đồ và tắm. Nói thật là vừa lạnh vừa xấu hổ nên tôi tắm qua loa rồi mượn quần áo  mặc vào.
Khóa học đầu tiên trong tù dành cho tôi bắt đầu khai giảng. Họ bảo tôi ngồi lên bục xi măng, gần phía hố vệ sinh rồi bắt đầu… Người có uy nhất trong buồng lên tiếng: “Mày tên gì?  Quê ở đâu? Bị bắt tôi danh gì? Tại sao bị bắt? Công an nào bắt?”
Tôi lần lượt trả lới các cậu hỏi của người này. Cậu ta tiếp lời: “May phúc cho mày đấy. tao cũng quê ở Nam Đàn, nhà tao gần công an huyện đấy. Tao bị chúng nó bắt giam ở đó, tao treo cổ tự tử mà bị đứt dây nên không chết. Chúng sợ tao làm lần nữa nên chuyển gấp xuống đây. Thôi ít nhiều gì chúng ta cũng cùng là nạn nhân của công an Nam Đàn nên tao tha cho mày, không làm “thủ tục” nhập buồng, nhưng về “Lý thuyết” thì phải học.
Cậu ta bắt đầu giới thiệu các thành viên trong buồng giam: “Tao giới thiệu để mày biết Tao tên là Trần Thế Toàn. Buồng trưởng buồng này. Bới vậy vào đây mọi thứ mày đều phải hỏi ý kiến tao mới được làm. Còn đây là thằng Lâu Vả Rùa nó là người Lào bị bắt về tôi buôn bán heroin, đã giam ở đây gần một năm. Nó có thể nhẹ thì bị tù trung thân, nặng thì bị tử hình, còn đây là thằng Thò Gà Hùa người HMong ở Quế Phong cũng tội buôn bán heroin, nhẹ thì 20 năm, nặng thì trung thân. Buồng giam này là buồng giam đặc biệt dành cho những đối tượng trọng án, nên được lắp bóng điện và có “Mắt mèo” theo dõi.”
Toàn đưa tay chỉ về hướng Camera trên tường và nói tiếp: Vì có nó nên mọi hoạt động trong buồng đều bị theo dõi.
Toàn bảo tôi: Trong này có luật riêng là ba không ba có. Mày phải biết nghe chưa?  Ba không là: Không nghe, không thấy, không biết. Cán bộ có hỏi gì chuyện trong buồng cũng phải trả lời trước sau như một. Tất cả phải bắt đầu từ chữ “Không”. Ba có là: Có mắt như mù, có tai như điếc, có mồn như câm. Như vậy không được nhìn việc của người khác, không nghe lén chuyện của người khác, không hớt lẻo chuyện của người khác với  bất kỳ ai. Tóm lại không phải việc của mình thì không tò mò làm gì.
Nói xong Toàn hỏi lại tôi: Đã nhớ chưa?
Tôi trả lời: Nhớ rồi!
Toàn nhắc lại: Nhớ rồi mà còn vi phạm thì đừng trách đấy nhé.
Toàn nói: ở trong này người ta không gọi nhau theo tuổi đời mà gọi nhau theo tuổi tù. Ai ở đây lâu hơn thì là bề trên, ai vào sau là bề dưới. Cán bộ quản giáo thì tù phải gọi họ bằng ông, tù nhân vào sau phải gọi tù nhân vào trước bằng anh. Đó là luật bất thành văn  nhưng ai cũng phải tuân thủ.
Toàn cho tôi biết thêm: Để vào nhập buồng thì các tù nhân phải qua thủ tục Thông tai, Thông ngực, Cuốc chim. Nhưng phúc cho mày là mày không phải vào buồng “Vệ sinh” nên không phải nếm mùi, vào đây gặp tao, tao cho qua là phúc ba đời đấy.
Nghe Toàn nói tới đây, mặc dù chưa biết thông tai, thông ngực, cuốc chim là gì nhưng tôi thầm cảm ơn Chúa là mình đã thoát được những thủ tục này. Toàn tiếp tục dạy tôi một bài học nữa trước khi đi ngủ: Trong buồng giam không được đi đại tiện ban đêm. Sáng mai khi mở cửa buồng rồi thì mọi người thay phiên nhau để đi đại tiện, nên phải tập cho quen đi, đi tiểu thì tự do nhưng phải đi tiểu kiểu của phụ nữ để nước tiểu không văng ra ngoài làm hôi khai trong buồng.
Vậy là buổi học đầu tiên trong vòng 30 phút kết thúc, nhưng đối với tôi vô cùng giá trị và tôi ơn Chúa vô cùng vì được gặp Trần Thế Toàn, một người “thầy” nhiệt tình, tận tụy chu đáo đối với tôi. Lúc này Toàn nói: Thôi hôm nay chỉ nói tới đây thôi, mai sẽ tiếp tục. Tôi thấy Toàn bảo Hùa: “ Bắt đầu đi em” Hùa lấy chiếc khăn tắm vắt lên dây mắc màn, cố ý che chiếc Camera lại, Toàn móc trong người ra một tở giấy báo và một nhúm thuốc lào cùng một cái bật lửa. Toàn cuốn thuốc như cái loa kèn dài, dùng bật lửa nhưng không có ga. Hùa lấy bông xé thật tơi đưa cho Toàn cả hai người lúi húi bật lửa.
Toàn hỏi tôi, Có hút thuốc không? Tôi nói, Tôi không hút. Toàn bảo phải tập đi, vào đây chỉ có điếu thuốc làm vui thôi, mà thuốc là hàng cấm đấy, nhưng vẫn có để dùng, không hút thuốc thì sao biết được giá trị của nó trong chốn lao tù. Tôi nói, trước đây tôi có hút, nhưng từ khi làm Mục sư tới giờ tôi đã bỏ. Toàn khuyến khích: Vào đây rồi thì cứ hút cho vui, ở đây thì sư với sải gì nữa, hút cho vui, sau về lại bỏ cũng được. Mà mày không hút là phụ lòng tốt của tao đấy. Mày thích tao đối xử tử tế với mày hay thích tao dùng “luật”? Thấy Toàn nói vậy tôi tặc lưỡi kéo một hơi. Đã lâu không hút thuốc, nay hút lại làm tôi say chóng cả mặt. Hút xong điếu thuốc chúng tôi bắt đầu vào giấc ngủ.
Một ngày trôi qua ở chốn lao tù cũng thật nhiều kỷ niệm. Tôi sẽ cố gắng viết tiệp những câu chuyện tiếp theo trong thời gian tới.
13/06/2014

(Còn nữa)
Kỳ 2 - Môi trường mới và những cơ chế trong nhà giam
Kẻng báo thức của trại giam vang lên, mặc dù không biết là mấy giờ, nhưng trời vẫn còn tối.
Cả buồng thức dậy. Tôi ngồi cầu nguyện còn 3 người bạn tù của tôi vùng dậy. Trần Thế Toàn Thấy tôi ngồi cầu nguyện. Toàn hỏi tôi: Tôn làm gì vậy?
Tôi không trả lời vì vẫn đang cầu nguyện.
Toàn hỏi tiếp: Thằng Tôn, mày làm gì vậy?
Tôi đành dừng cầu nguyện và trả lời: Tôi là người theo Chúa nên mỗi buổi sáng và tối tôi đều cầu nguyện.
Toàn nói: Thôi đã vào đây thì không được thực hành những nghi lễ đó. Lát nữa mở cửa mày xem nội quy và phải học cho thuộc.
Toàn lại bảo Hùa: Chuẩn bị đi em! Hùa lại lấy khăn che lên dây khăn mặt, cố tình tạo ra một góc phòng mà Camera không thể thấy. Toàn tiếp tục lấy thuốc lào và báo ra làm như khi tối. Họ hút thuốc và đưa cho tôi, nhưng tôi từ chối, vì hôm qua tôi đã hút với họ nhưng bị say nên rất sợ.
Toàn bắt đầu phân công công việc cho các thành viên trong buồng: Hôm nay có thêm thằng Tôn nên công việc thay đổi một chút nhé. Thằng A Lào (tức Rùa) vẫn chịu trách nhiệm lau dọn hố “mét”(Hố vệ sinh), Thằng Hùa lau bục nằm và “xa lộ”, thằng Tôn chịu trách nhiệm rửa bát.
Toàn nói tiếp: Sáng nay thằng Hùa ra nhận 4 gói mì tôm và nước, ăn xong thì Thăng A Lào se râu cho thằng Tôn, sau đó Thằng Tôn phải học cho thuộc nội quy.
Tôi nghe xong và chỉ hiểu được phần việc của mình từ hôm nay là rửa bát cho cả 4 người sau mỗi bữa ăn.
Cửa buồng giam mở, chúng tôi vội vàng bước ra cửa xếp hàng ngang, 3 người bạn của tôi  hô lớn tiếng “ Xin chào cán bộ”. Quản giáo Thành gật đầu. Có một tù nhân thuộc buồng “vệ sinh” đi theo cán bộ làm trách nhiệm mở và đóng cửa, người tù này tên Tuấn. Tuấn đóng cửa ngoài, quản giáo khóa lại. Mấy thành viên trong buồng, thay nhau đi đại tiện, xong Hùa dùng dẻ lau lối đi trong buồng mà họ gọi nói là “Xa lộ”, A Lào (Tức Lầu Vả Rùa) Nhanh nhảu lau dọn hố vệ sinh. Còn tôi thì ngơ ngác chẳng biết làm gì. Thấy Tuấn, là người đã đi theo Quản giáo để mở cửa buồng giam khi nãy cầm cuốn sổ và một người nữa bê thùng mì tôm tới cửa buồng gọi: Buồng 9 lấy bao nhiêu gói?
Toàn trả lời: 4 gói anh ạ!
Lấy Mì tôm vào, Hùa xé và bỏ vào bốn bát nhựa, một lát sau thấy có người xách thùng nước nóng tới đổ cho chúng tôi một ít vào chậu để chúng tôi pha Mì tôm. Tối hôm qua đợi công an làm thủ túc giấy tờ mãi, vào buồng muộn nên tôi không được ăn cơm tối. Sáng hôm nay ăn bát Mì Tôm trong tù, tôi thấy nó thật ngon.
Tôi hỏi Toàn: Mì Tôm này là do trại cấp hả anh Toàn?
Toàn cười nói: Trại cấp, nhưng tiền gia đình.
Tôi chưa hiểu lắm câu trả lời này nhưng cũng có thể nhận ra rằng Mi tôm tôi ăn sáng nay không phải là của “nhà nước”.
Ăn sáng xong tôi mang bát vào rửa và thấy Tuấn (người đã đi theo cán bộ để mở buồng) đi lại và đưa qua song sắt cho Toàn một nhúm Thuốc Lào, một dãi báo. Toàn mang vào trong buồng, ngồi làm gì đó tôi không giám để ý, vì tôi vẫn nhớ bài học ba không ba có. Một lát sau thấy Tuấn mang bật lửa lại gọi Toàn ra bật lửa cho Toàn châm Thuốc Lào. Sau khi hút thuốc xong, Toàn bảo Rùa: A Lào  lấy chỉ se râu cho Tôn đi!
Thấy A Lào đứng dậy lấy một sợi dây chỉ mà cậu cuộn sẵn trong túi đựng đồ cá nhân.
A Lào bảo tôi nằm xuống, cậu ta dùng chỉ buộc vào bốn đầu ngón tay của cả hai tay, bắt đầu nhẹ nhàng đưa vào cằm tôi và cứ thế cậu ta se từng sợi râu, ria trên cằm và mép tôi. Đã hơn một tuần chưa cạo râu nên râu tôi rất tốt. A Lào se mãi mới xong, cứ mỗi lần hai ngón trỏ của A Lào bật ra bật vào, dây chỉ se vào râu và nhổ ra vai sợi, làm tôi đau chảy cả nước mắt.
Tôi hỏi: Sao không dùng dao cạo để cạo cho đỡ đau?
Toàn nói giải thích: Trại giam cấm không cho người bị tạm giam dùng dao cạo.
Toàn bảo tôi: Vào đây rồi phải xác định, tập tành cho quen đi, phải tự tập mà se râu, chứ không ai làm cho mình mãi được đâu.
Se râu xong tôi vào buồng tắm rửa cho sạnh sẽ, và bắt đầu quan sát cho kỹ lại buồng giam:
Buồng giam thiết kế có 2 bục bằng Xi măng để cho tù nhân nằm, chiều cao của bục khoảng 50 cm chiều  ngang khoảng 90 cm dài khoảng 2 m thiết kế dọc theo chiều dài của buồng giam, ở giữa hai bục nằm là lối đi rộng khoảng 70 cm, mọi người trong buồng gọi là “Xa lộ”. Cuối hai bục nằm một bên là bể chứa nước được gắn vòi từ gòi vào, một bên là hố vệ sinh. Như vậy tổng cộng chiều dài của buồng giam khoảng 3 m, chiều ngang khoảng 2,5 m, Tổng diện tích buồng khoảng  7,5 m vuông. Không có cửa sổ, chỉ có một cửa chính, cánh cửa làm bằng sắt rất dầy, trên cánh cửa có một ô hình chữ nhật cao khoảng 1,5 cm, dài khoảng 2,5 cm làm ô thoáng mỗi khi cảnh cửa sắt đóng lại. Phía trước và sau buồng giam ở trên gần trần nhà có mấy ô thoáng để thông khí, được gắn bằng các khung sắt. Ngay cửa buồng bước ra có một khu hiên mà người tù gọi là “Chuồng cọp” là nơi mà mỗi giờ mở của buồng giam thì các bị can ra đó ngồi cho thoáng. Chiều dài “chuồng cọp” là chiều ngang của buồng giam, chiều rộng “chuồng cọp” khoảng 1,2m, được ngăn cách với bên ngoài bằng một dãy song sắt. Có một cánh cửa ra vào, nhưng bình thường nó chỉ được mở mỗi ngày 6 lần, Sáng Quản giáo mở nó để vào mở cửa buồng giam, gần trưa Quản giáo mở nó để các bị can nhận phần cơm, trưa quản giáo mở nó để vào đóng cửa buồng giam, tương tự buổi chiều cũng vậy.
Quản giáo sai Tuấn tới mở cửa buồng gọi tôi ra ngoài gặp. Quản giáo Nguyễn Văn Thành ngồi trên ghế có một bàn gỗ trước mặt. Tôi tới nới, ông ta chỉ tay về trước mặt bảo tôi: Đứng đấy!
Tôi đứng vào chổ ông ta chỉ.
Cán bộ hỏi tôi một loạt các câu hỏi như:  Họ tên gì? Sinh năm bao nhiêu? Nghề nghiệp làm gì? Quê quán ở đâu? Họ tên bố mẹ, vợ và các con là gì? Bị bắt ngày nào? Bị truy tố tôi danh gì? …
Tôi lần lượt trả lời các câu hỏi của ông ta. Thấy ông ta ghi tất cả vào một cuốn sổ, sau đó ghi họ tên tôi vào một mảnh giấy hình con thoi gần bằng lòng bàn tay rồi dắt vào cuốn sổ, (mà sau này tôi biết họ gọi là sổ “Tôm” để quản giáo theo dõi tên tuổi và số bị can trong các buồng giam). Xong việc họ đưa tôi trở lại buồng giam.
Buồng trưởng Toàn hỏi tôi: Tôn có muốn ở buồng này hay thích lên buông “Vệ sinh” ở cho thoải mái?
Tôi không hiểu “Buồng vệ sinh” là sao nên hỏi: Sao ở buồng vệ sinh lại thoải mái hả anh? Buồng vệ sinh là thế nào ạ?
Toàn nói: Nhà A1a này có 10 buồng, chia làm nhiều loại khác nhau, Buồng 6 là buồng Vệ sinh, buồng đó rộng rãi hơn, có cửa sổ thoáng mát, chỗ nằm thoải mái, hàng ngày cán bộ mở cửa cho đi đi lại lại, phục vụ nước nôi cho cán bộ, phơi quần áo và chia cơm nước cho tù nhân. Cán bộ cho họ được đun nấu thức ăn trong buồng giam, có thuốc lá thuốc lào thoải mái, thậm chí thích uống rượu, cán bộ cũng có thể mang vào cho. Buồng 5 là buồng “Sỹ Quan” buồng đó cũng rộng rãi thoáng mát, cũng có thuốc lá thuốc lào nhiều hơn các buồng khác, nhưng không được mở cửa để đi ra đi vào. Mỗi buồng đó bình thường là có 10 tới 12 tù nhân ở. Mỗi người muốn được vào ở buồng vệ sinh thì gia đình phải “làm cơ chế” cho cán bộ quản giáo 5 triệu đồng và mỗi tháng gia đình thăm nuôi phải biếu quà cho cán bộ 5 trăm ngàn. Nếu không đủ điều kiện ở buồng vệ sinh thì ở buồng sỹ quan cũng được. Ở buồng sỹ quan thì làm cơ chế cho cán bộ 3 triệu và mỗi tháng cũng quà cáp 4 hoặc 5 trăm ngàn. Nếu không có thì ở buồng bình dân, không làm cơ chế, nhưng mỗi khi gia đình tới thăm thì biếu cán bộ từ 2 trăm tới 5 trăm, để cán bộ quan tâm cho mình việc nước nôi, thuốc men…Còn nếu không có gì thì phải ở buồng Si bi ri.
Tôi hỏi: Thế buồng Si bi ri là thế nào ạ?
 Toàn nói: Buồng đó là dành cho những thành phần không có gia đình thăm nuôi, qua cáp và không có cả tiền lưu ký. Hàng ngày chỉ dùng cơm tù canh trại, cán bộ dồn họ vào một buồng.
Tôi lại hỏi: Thế buồng mình đang ở là buồng gì?
Toàn nói: Buồng này là bình dân, nhưng chỉ dành nhốt những đối tượng trọng án để theo dõi qua Ca me ra.
Tôi nói: Thôi! Họ nhốt đâu thì mình ở đó thôi chứ chẳng chọn lựa, hơn nữa nhà tôi cũng không có tiền làm cơ chế cho cán bộ.
Toàn chỉ vào tờ giấy khổ A4 treo ở hàng song sắt bảo tôi: Nếu xác định ở lại buồng này thì bây giờ ra học nội quy cho thuộc đi.
 Tôi cầm tờ gấy xem qua một lượt, rồi treo lên. Tôi nói với Toàn: Những quy định ở đây mình cứ hiểu, nhớ và thực hiện là được chứ học thuộc làm gì.
 Quản giáo đi lại nhắc nhở: Toàn cho thằng mới vào học nội quy đi, thằng đó phải học thuộc điều 9 nhé !
 Toàn lại bắt tôi phải học nội quy, nhưng lần này thì bảo tôi là phải học bằng thuộc điều thứ 9.
Điều 9 có nội dung đại khái như sau: “Nghiêm cấm người bị tạm giữ, tạm giam tàng trữ sử dụng văn hóa phẩm đồi trụy, phản động. Cấm thực hành các hình thức mê tín dị đoan, cấm truyền đạo…”. (Mặc dù bị buộc phải học thuộc nhưng tôi cũng chỉ học để đối phó, nên không con nhớ được đầy đủ). Thời gian trôi qua, một ngày tù kết thúc vào lúc khoảng 16h chiều bằng việc cậu  Tuấn vệ sinh đi phát thuốc lào cho các buồng giam xong thì quản giáo đi đóng cửa buồng . Cả khu nhà giam lại rơi vào tĩnh mịch. Các thành viên buồng giam số 9 chúng tôi lại kể cho nhau nghe những câu chuyện của đời mình, để thời gian được trôi nhanh. Những câu chuyện mà mọi người kể lại trong chốn lao tù, tôi sẽ lần lượt lại vào những phần sau.
Cám ơn các đọc giả đã cảm thông và cùng tôi xem hết bài viết dài này, hi vọng quý độc giả sẽ phần nào hình dung ra cuộc sống của những người ngồi sau song sắt trong “Thiên đường XHCN” này.
Hen gặp lại quý đọc giả trong kỳ sau.
Thanh Hóa ngày 17/6/2014
Nguyễn Trung Tôn
Những bài học trong chốn lao tù
Kỳ 3 Tự chuyện của các tù nhân cùng buồng
Màn đêm dày đặc bào quanh các buồng giam chật hẹp. Trong buồng số 9 nhà A1a trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ an, sau những câu chuyện của mỗi người, 4 chúng tôi mỗi người một quê hương, bỗng trở nên gần gũi.
A Lào (Lầu Vả Rùa) nói chầm chậm vì tiếng việt chưa thạo, qua câu chuyện cậu kể, tôi biệt cậu đã nhiều lần đưa Ma Túy từ Lào vượt đường rừng về khu vực rừng núi Tương Dương Nghệ an để giao cho khách, mỗi lần như vậy khoảng 2 hay 3 bánh. Lần đi khiến cậu sa lưới này có một người cùng đi để bảo vệ cho cậu.  Anh Lào cho biết người đi cùng cậu ta là một tay súng rất giỏi, hai tay hai súng, người này luôn bám theo A Lào từ xa để bảo vệ A Lào. Lần này “ Khách hàng” của cậu đã bị Công an Việt Nam theo dõi, họ đóng giả là một mối hàng lớn, cùng đi theo với người khách hàng cũ, A Lào và ngừời bạn hàng cũ mất cảnh giác, nên đang khi giao hàng, bổng dưng A Lào và người khách cũ bị quật ngã xuống khe. Công an ập tới chỉa súng vào người không chế. Thấy A Lào gặp nguy hiểm, người đi cùng A Lào đã nổ súng bắn vào lực lượng công an nhằm giải vây cho cậu ta, khiến cho một Công an bị thương, còn đồng bọn của A Lào thì sống chết thế nào Lào không rõ. Chỉ biết rằng với tình tiết trên A Lào rất có thể phải chịu mức án tử hình.
Thò Gà Hùa tên gọi khác Thò Bá Chư thì kể rằng: Từ nhỏ lớn lên trên vùng núi huyện Quế Phòng, tỉnh Nghệ An; Hùa phải vật lộn với cuộc sống nương rẫy rất vất vả mà vẫn không đủ sống, Hùa mồ côi cha khi con nhỏ, khi cậu mới lớn thì mẹ cậu ta bỏ lại Hùa và 2 người em còn nhỏ đi lấy chồng khác, Hùa đã lấy vợ có 2 con, vợ chồng cậu phải rất vất vả để nuôi 2 con nhỏ và 2 người em. Hùa chưa biết gì về Ma túy cả. Bỗng một hôm có người tới nhà nói với Hùa, họ sẽ giúp Hùa có cuộc sống khấm khá hơn để nuôi cả gia đình và các em. Người đó nói với Hùa, chỉ cần Hùa cho họ gửi Hê rô in trong nhà Hùa, mỗi khi có khách tới lấy hàng thì họ sẽ trả cho Hùa mỗi bánh là 500 USD. Hùa rất sợ, nhưng nghĩ rằng nếu đồng ý cho người kia gửi hàng thì Hùa chẳng mất mát gì mà vẫn có cơ hội kiếm được tiền. Cuối cùng Hùa đồng ý. Lần này người kia nói với Hùa để cho anh ta gửi tạm 2 bánh Hê rô in thử xem sao, nếu thấy an toàn thì lần sau sẽ gửi số lượng nhiều hơn. Người đó cho Hùa ứng trước 500 USD và nói số còn lại sẽ đưa sau. Người khách mới rời khỏi nhà, Hê rô in chưa kiếp cất dấu, 500 USD chưa ấm túi thì cậu đã bị Công an bắt, cậu phải đối diện với mức án Trung thân.
Trần Thế Toàn lại kể: Toàn đã đi tù lần này là lần thứ 4, mới 16 tuổi, khi còn học cấp 3, cậu đã làm quen với Ma túy. Cậu thường hay rũ bạn bè chấn đường các học sinh trong trường để chấn lột tiền bạc để có cái ăn chơi. Khi học xong cấp 3 Toàn bị bắt về tôi cướp đoạt tài sản do đã cướp một chiếc xe đạp và tiền của một em học sinh. Lần này nhờ gia đình chạy chọt nên cậu chỉ bị 3 năm án treo. Gia đình Toàn đã cho Toàn đi học nghề lái xe và mua cho cậu một chiếc xe tải để đi chở hàng, nhưng chẳng được bao lâu; trong khi đang phê thuốc, cậu đã gậy tai nạn giao thông. Lần này cộng cả án treo vào cậu phải ngồi tù 4 năm. Sau khi ra trại cậu lại dính vào mà túy nên bị bắt vào trại cai nghiện, đang khi cậu ở trong trại cai nghiện thì bị công an triệu tập về trại giam để điều tra về một vụ cướp, thế là cậu lại bị kết án 7 năm tù. ở tù 5 năm, Toàn được về. Về mới được 5 tháng Toàn bị bắt lại lần này khi ở trong người có chưa 2 tép Heroin. Toàn nói lần này có thể Toàn sẽ phải chịu án từ 7 tới 10 năm.
Tôi chỉ biết nghe họ kể về chuyện của họ, còn tôi tôi chỉ kể cho họ nghe về những câu chuyện trong Kinh Thánh và những việc tôi viết bài trên mạng lên an sự hèn với giặc ác với dân của những lãnh đạo Cộng sản, mà không nói rõ chi tiết vụ án của mình, bới tôi không biết chắc những bạn tù của tôi, họ có đang kể những câu chuyện của họ để khuyến khích tôi kể về vụ án của mình hay không! Nên tôi nói: Tôi chưa bao giờ nghĩ tới việc tôi sẽ bị bắt vào tù, vì những việc tôi làm chỉ đơn thuần là niềm tin tín ngưỡng cùng với lòng yêu nước.  Tôi cũng không rõ tôi sẽ bị kết án ra sao.
Toàn nói với các thành viên trong buồng: Nghe anh Tôn kể chuyện; chúng ta biết anh ấy là người bị bắt vào tù vì lý do khác chúng ta. Nếu xã hội có nhiều người như anh Tôn thì có thể cuộc đời chúng ta đã khác, xã hội thật bất công nên mới đẩy anh vào đây! Từ này buồng ta sẽ gọi anh Tôn là anh vì anh nhiều tuổi nhất.
Sau vai câu chuyện của mỗi người, chúng tôi bắt đầu đi ngủ. Toàn bảo A Lào cắt túi bóng se dây mới để thay cái dây khăn mặt, và dây mắc màn. Toàn mở túi tư trang và lấy ra mấy cái túi bóng mà cậu đã cất giữ sau mỗi lần ăn kẹo lạc hay ăn đường, từ những lần mua lưu ký trước đây. A Lào gấp dọc các túi bóng theo chiều dọc rộng bằng khoảng 3 ngón tay; dùng sợ chỉ đặt vào đường gấp, Hùa và Lào mỗi người một đầu sợ chỉ; họ lôi đi lôi lại như người rọc ván. Cứ như vậy họ cắt những chiếc túi bóng thành nhiều phần chỉ bằng một sợ chỉ. Tôi không biết gì mà chỉ ngồi quan sát. Sau khi cắt số túi ni lông ước lượng đã đủ dùng. A Lào và Hùa cầm những miếng túi ni lông đã rọc và khéo léo gấp hai mép vào giữa theo chiều dọc, xong lại gấp đôi lại, chủ yếu dấu đi các mép cắt. Họ dùng rằng cắn một đầu dây, và hai tay xoắn cho nhỏ lại và sau đó tay trái cầm lấy đầu còn lại, tay phải vút nhanh trên sản phẩm, vút tới đâu tay trai kéo tới đó. Chỉ trong mấy phút những chiếc túi bóng ny lông đã trở thành những sợ dây dai tron như dây cước. Họ dùng nó để thay chiếc dây khăn mặt và dây mắc màn đã củ. Bây giờ tôi mới quan sát kỹ hơn về những chiếc dây màn và nới buộc nó trên tường. Thì ra trong buồng giam không có bất cứ một thiết kế nào để cho tù nhân có chỗ để mắc màn. Những người tù ở đây đã phải sáng tạo ra cho mình bằng cách, dùng những chiếc khóa quần áo bằng kim loại còn sót lại qua những lần kiểm tra của công an và đuôi của những chiếc bàn chải đánh răng, kiên tri khoáy vào tường làm thành những lỗ trên tường, tuy chỉ sâu khoảng 1 cm  (tức hết lớp áo của tường) nhưng nó cũng đã là một nỗ lực rất lớn của người đã tạo ra nó. Các lỗ này được tạo ra, “người thợ” phải khéo léo sao cho phía trong rộng hơn miệng lỗ. Sau khi đã tạo xong rồi, họ dùng túi ni lông xoắn lại bằng chiếc đỏ ăn cơm, gấp đôi lại tạo thành khuyết, đầu bên kia, dùng lửa đốt cho cháy, đang khi cháy như vậy, “người thợ” cầm dúi khuyết màn vào lỗ khuyết đã tạo, giữ tay một lúc cho nguội phần Ny lông đã đốt chảy mền bám vào lỗ trên tường và không tụt ra được nữa. Vậy là trong buồng giam đã có chỗ mắc màn và dây khăn mặt. Sau khi đã thay dây màn và dây khăn mặt. Toàn nói với cả buồng: Mai thứ 3 là ngày mua lưu ký. Buồng mình sẽ mua thêm một thùng Mỳ tôm, 10 con cá, 5 lạng thịt, 2 gói kẹo Trái cây, 10 bánh chưng, 5 lạng đường.  Anh em nghĩ xem còn cần gì nữa không?  Hùa nói: Mua thêm cho anh Tôn một bàn chải đánh răng, một khăn mặt và một bát, một thìa. Tôi nói: Tôi mới vào buồng, lại chưa có tiền lưu ký, quần áo còn phải mượn của anh em nên rất nể, nên nếu được thì anh em mua giúp tôi, khi nào gia đình gửi tiền vào tôi sẽ mua trả anh em. Toàn nói: Anh yên tâm đi, đã vào đây rồi chúng ta là anh em với nhau, chúng ta phải thường yêu và giúp đỡ nhau. Tiền của anh em cũng là tiền chung, anh không phải ngại. Nghe những gì Toàn nói, tôi thấy được an ủi vô cùng, lòng thầm cám ơn Chúa vì Ngài đã chuẩn bị cho tôi gặp những người anh em mới trong chốn lao tù thất đáng trân trọng.
Khi anh em đi vào giấc ngủ, tôi ngôi dậy cầu nguyện nhẹ nhàng để cám ơn Chúa về nhưng gì Ngài làm cho tôi, tôi phó thác lên cho Chúa những trăn trở của mình về cuộc sống gia đình và nhưng tháng ngày tiếp theo của tôi trong chốn lao tù. Cầu nguyện xong tôi năm xuống và ngủ rất ngon lành.
Còn nữa!
Thanh hóa ngày 22/06/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 4 Ngày Táo Quân với món che tù.
Màn đêm dù tăm tôi tới đâu rồi cũng phải qua đi, bới quy luật của Đấng Tạo Hóa đã định cho nó. Mặc dù ở trong buồng giam, chúng tôi không thể nhìn thấy hừng đông xuất hiện, nhưng vẫn cảm nhận được trời sắp sáng.
Cả buồng thức giấc, Toàn và Hùa vẫn bắt đầu ngày mới bằng một vê thuốc lào. Một lát sau nghe tiếng chìa khóa lẻng xẻng, chúng tôi khẩn trương gấp chăn màn xong thì đứng thành hàng dọc đợi Quản giáo mở cửa buồng mình. Tiếng chìa khóa mỗi lúc một gần, lẫn với tiếng dày đinh lộp cộp, tiếng mở cửa sắt kêu lách cách. Ai cũng biết Quản giáo đã vào nhà giam. Từ phía buồng 6 vàng lên tiếng hồ đồng loạt “ Xin chào cán bộ”, tới buồng 7 rồi buồng 8. Tiếng lắc chốt cửa cót két, cánh cửa buồng 9 mở ra. Cả buồng chúng tôi lại xếp thành hàng ngang và đồng thanh hô “ Xin chào cán bộ” . Sau khi cửa buồng đã mở, mọi người vẫn tiến hành những hoạt động bình thường như thường lệ. Ăn mì tôm xong, cánh cửa ngoài “Chuồng cọp” buồng 9  lại mở, tôi được gọi ra ngoài. Có một công an tới đưa tôi đi. Bước tới nhà lấy cung, tôi thấy có tới 5, 6 công an cả nam cả nữ đang ngồi đợi. Tôi bước vào trong gật đầu chào họ. Một nữ công an hỏi tôi: Anh có phải Nguyễn Trung Tôn không? Tôi trả lời: Phải ạ! Nữ công an đó nói: Anh lăn tay điểm chỉ vào đây để làm hồ sơ. Tôi đưa tay cho cô ta làm dấu và điểm chỉ xong, họ dẫn tôi lại chụp ảnh hồ sơ bị can. Họ chụp một kiểu chính diện, hai kiểu nghiêng bên trai và bên phải xong, họ dẫn tôi tới phòng làm việc bảo tôi ký vào sổ hồ sơ của họ. Tôi hỏi nữ cán bộ: Hôm nay là ngày bao nhiêu âm lịch rồi cô? Cô ta trả lời : 23 tháng chạp rồi! Cô nói thêm: Ngày nay là ngày Táo Quân lên trời, nếu đứng gây án thì giờ này các anh có thể đang chuẩn bị ngồi mâm! Tôi nói lại: Tôi có gây án gì đâu. Chẳng hiểu công an Nam Đàn tại sao lại bắt tôi?  Nếu không bị bắt thì chắc chắn sáng nay tôi đang phải phụ bán hàng ở chợ với vợ. Không có tiếng trả lời. Một người lại dẫn tôi về buồng giam. Thời gian chầm chậm trôi nhưng rồi một ngày tù nữa cũng kết thúc bằng những tiếng hô “Xin chào cán bộ”. Cảnh cửa buồng  giam đóng lại. Trời chưa tôi nhưng đối với chúng tôi thì man đêm đã bắt đầu. Toàn bảo chúng tôi mang bánh chưng đã mua khi sáng ra. Toan nói: Hôm nay là 23/3 ngày Táo quân lên trời. Chúng ta sẽ làm món “Chè tù” để đưa ông Táo. Tôi bóc bánh chưng ra, Toàn nói: Bóc 5 chiếc thôi! (Bánh chưng mà chúng tôi mua của Căn tin trại giam nhỏ bằng nắm tay, giá 5000 đồng một chiếc) Tôi làm theo lời Toàn, bóc 5 chiếc bánh ra. Toàn bảo Hùa rửa tay sạch sẽ, dùng một túi bóng mang vào tay thay cho chiếc ngang tay, bỏ bánh chưng vào chiếc chậu nhựa. bóp nhỏ bánh ra, dùng thìa nhựa nghiền từng hạt cho nhỏ tinh ra. Cứ làm đi làm lại, miết nhỏ xong lại nắm thành nắm, xong lại dùng thìa miết lại cho tới khi cả chậu bánh nhừ nhuyễn như chậu bánh nếp làm bằng tinh bột. A Lào và tôi thì bỏ 2 thanh lương khô vào túi bóng, đập xuống bục nằm, cho vỡ ra, rồi dùng vỏ chai đựng Com fo bỏ muối ăn vào trong cho nặng để làm chiếc chày đập đi đập lại cho lương khổ nhỏ tơi thành bột. Sau khi Lương khô đã nhỏ, bánh chưng đã tinh, Hùa trộn hai thứ vào nhau và tiếp tục lấy thìa miết lại lần nữa. Toàn cho đường và một hộp sửa tươi hương dâu vào. Bảo Hùa tiếp tục thao tác như trước thêm một lần cuối. làm xong để khoảng 30 phút. Toàn bảo mọi người lấy mấy cái bát nhựa, mà trước khi đóng cửa buồng Toan đã trộm mang vào buồng (Theo quy định thì bát thìa và bàn chải đánh răng đều phải để ngoài chuồng cọp). Lấy thìa xắn “Chè tù” vào bát cho từng người, bỏ thêm vào bát một nhúm lạc rang,Toàn nói: Anh em hãy thưởng thức món này để nhớ hương vị của quê hương và ngày tết Táo Quân. (Mắc dù tôi chỉ tin theo chủ thuyết độc thần, nhưng vẫn tôn trọng niềm tin của Toàn và những người khác). Tôi thấy tôn trọng Toàn thật sự về những kinh nghiệm chốn lao tù. Thêm nữa tôi nhận ra rằng: Mặc dù Toàn chỉ là một người nghiện Ma tuy, một tay tù tội nhiều lần, nhưng lương tâm của Toàn vẫn rất tốt với những người xung quanh.
Hương thơm của gạo nếp, vị ngọt của đường, vị bùi của lạc, mùi thơm cam của lương khô, lại thêm hương dâu của sửa tươi, hòa quyện vào nhau, tạo thành một mùi vị đặc trưng của món chè tù. Chúng tôi cùng nhau vừa thưởng thức vừa tâm sự. Cái dẻo của bánh chưng đã quyện những thứ hương vị lại với nhau, dường như cũng khiến cho 4 người chúng tôi thêm khăng khiết, thân mật và gần gũi. Tôi bắt đầu đọc cho họ nghe những bài thơ tình mà tôi đã từng làm từ thời thanh niên, cho tới những bài thơ nói về quê hương đất nước, về niêm tin tín ngưỡng của mình…
Toan rất thích bài thờ tình của tôi nên cứ bảo tôi đọc đi đọc lại. Toàn nói; Anh hay tập cho em thuộc bài thơ nay đi. Em rất thích nó! Vì không có bút và giấy nên tôi buộc lòng phải tập cho Toàn từng đoạn một để Toàn nhớ.
Nôi dung bài thơ tôi làm từ năm 1991 khi tôi còn trong quân ngũ như sau:
Chiều nay chứng kiến cảnh tan trường,
Lòng tôi bỗng nhớ tới quê hương
Và nhớ lại thời còn đi học.
Tôi với em hai đứa chung đường,
Cùng một lớp và thường đi sớm.
Không hẹn bao giờ, nhưng vân cứ gặp nhau.
Cùng đường em trước, tôi sau.
Hai đưa tâm sự bên nhau vui đùa.
Tôi đỏ mặt khi gặp thầy chủ nhiệm,
Em thẹn thùng lui bước lại sau.
Bạn bè đùa chúng nó đã yêu nhau.
Nhưng tôi chối rằng đâu có phải.
Tôi dấu trong lòng, dấu mãi một tình yêu.
Rồi cuối cùng bạn bè ai cũng biết.
Họ bảo rằng: Hai đưa thật đẹp đôi.
Tôi đỏ mặt còn em bỗng trách:
Chuyện chúng mình sao anh để lộ ra?
Thế rồi đôi đứa phải cách xa.
Em vào đại học, tôi đi lính,
thư gửi cho nhau được mấy lần.
Bỗng tôi tê tái cả toàn thân,
tim tôi rớm máu dạ bần thần.
Tình yêu đang đẹp tuyệt trần,
Bỗng em thay dạ đổi lòng với tôi.
Tôi cay đắng bao điều không dám nói.
Bởi tôi nghèo không đáng để em yêu.
Tình yêu một sáng, một chiều,
Cho nên em chọn đúng điều dầu sang.
Còn tôi phận lính nghèo nàn,
Em không yêu nữa, phủ phàng chi đâu!
Ở kíp này tôi là người xấu số.
Tôi hy vọng rằn sẽ có kíp sau.
Tôi mong em la cây cau bé nhỏ,
Thân mãnh mai mà trọn nghĩa với trầu.
Còn tôi sẽ biến thành cơn gió,
Để sáng chiều vút tóc cho em
và hát ru cho lá trầu thêm tươi thắm,
Để nghĩa cau trầu mãi mãi không phai.
Món chè tù và những câu chuyện, vần thơ đã khiến thời gian trôi đi nhanh chóng. Chúng tôi ai nấy mắc màn đi ngủ. Năm trên bục nhưng Toàn vẫn nhẩm đi nhẩm lại những câu thơ tôi vừa tập cho, thỉnh thoảng chổ nào không nhớ lại hỏi tôi. Toàn nói: Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ phải chia ly như bài thơ của anh Tôn vậy. Nhưng hy vọng chúng ta sẽ mãi nhớ tới nhau. Nếu còn sống thì chúng ta hãy tìm tới nhau nhé.
Còn nữa
Thanh Hóa ngày 23/06/2014
Nguyễn Trung Tôn


Kỳ 5 Cuộc sống trong nhà giam và những “luật” ngầm”

Chiều ngày 25 tháng chạp tôi nhận được 0,5 kg thịt lợn kho, một chậu nhựa, một khăn mặt, một bàn chải đánh răng, một chăn một màn và 4 bộ quần áo do vợ tôi gửi vào. Tuấn; trưởng buồng vệ sinh cầm phiếu nhận đồ và nhận hàng tới cho tôi ký nhận. nhưng riêng quần áo thì chỉ cho tôi nhận 2 bộ, còn đâu họ cất vào kho của nhà giam, vì theo quy định thì mỗi bị can chỉ được mang vào buồng giam 2 bộ quần áo dài, 2 bộ quần áo lót và 2 áo ấm. Đã gần một tuần tôi mặc nhờ quần áo của A Lào, rất may là vợ tôi đã kiệp thời gửi quần áo vào. Tôi mong mãi chẳng thấy có giấy lưu ký vợ gửi tiền. Tôi hơi buồn, vì đã ăn nhờ của anh em cả tuần trời, nay vợ vào thăm nuôi, nhưng lại chẳng gửi cho đồng nào để có mà san sẻ với anh em.
Tối hôm đó thấy tôi than thở về chuyện đó. Toàn động viên tôi: Anh không phải buồn, chắc lần đầu vợ anh đi thăm nuôi tù nên chưa có kinh nghiệm, hơn nữa có khi còn phải đi hỏi thăm chỗ này chỗ khác nên không còn tiền. Tôi nói với Toàn: Tôi  hiểu điều đó nhưng thực sự thấy nể mấy anh em quá. Anh em cũng khó khăn, cảnh tù tội thiếu thốn, nay tôi vào buồng mà chẳng san sẽ gì cho anh em được, lại còn ăn nhờ, mặc nhờ thế này khó nghĩ quá! Toàn bảo tôi: anh yên tâm đi, chắc lần sau vợ anh vào sẽ khác, lần này chưa có kinh nghiệm thôi! Cũng đã gần một tuần tôi không có gối để gối đầu, nên phải mượn cái túi tư trang của A Lào để gối tạm. A Lào chầm chậm nói với tôi: Hôm này anh Tôn có quần áo rồi, anh xem có cái quần nào không mặc tới đưa đây, em cắt và may cho anh cái vỏ gối. Tôi ngạc nhiên hỏi A Lào: Quần thì có những làm sao để cắt, may được, trong khi mình không có dao, kéo, kim chỉ thì làm sao mà may được? A Lào nói: Anh cứ đưa một cái quần dài ra đây em có cách làm cho. Tôi lấy một quần vài thô đưa cho A Lào, nhờ cậu làm giúp tôi chiếc vỏ gối. A Lào lấy quần, đo xong, cậu tì vào cạnh bục năm, đẩy đi kéo lại để cắt hai ống quần ra, rút các sợ vải của quần quấn lại để làm chỉ. Cậu bè một cái xương của chiếc quạt kè, mài nhọn một đầu, đầu kia cậu kéo léo dùng móng tay, lách ra nó ra để dắt chỉ vào, cần mẫn khâu từng mối chỉ một. và chỉ sau hai buổi tối A Lào đã làm xong cho tôi một chiếc vỏ gối xinh xắn, tôi gấp quần áo và tư trang cá nhân lại, bỏ vào đó để làm gối cho mình, chiếc vỏ gối này đã theo tôi suốt cả 2 năm tù. Trong khi A Lào may vỏ gối cho tôi, Toàn tranh thủ bay cho tôi kinh nghiệm để khi nếu có cơ hội gặp thân nhân, tôi sẽ biết cách phải làm sao. Toàn nói: Hầu hết các bị can khi gặp thân nhân đều phải có quà biếu cán bộ. Nếu được gặp thân nhân mà không có quà biếu quản giáo thì sẽ bị quản giáo gây khó khăn trong thời gian bị tạm giam. Tôi hỏi Toàn: Mình gặp người nhà mà gặp qua lưới thì làm sao có thể lấy tiền để đưa cho cán bộ được? Toàn dặn: Các cán bộ quản giáo có mối quan hệ với các quán nước ngoài cổng trại. Khi gặp người nhà, chúng ta chỉ cần dặn người nhà là bỏ vào phong bì 500.000 hay 1.000.000 đồng tùy khả năng. Mang ra quán nước bà Anh hay bà Lan ở cổng trại, ghi rõ là thân nhân của bị can nào, gửi cho cán bộ tên gì. Như vậy khi hết giờ làm việc, quản giáo sẽ ra quán nước nhận quà, làm vậy là yên tâm. Nếu muốn gặp người thân lâu thời gian một chút thì nhớ bảo người nhà đưa cho cán bộ trực thăm gặp ít nhất 200.000 đồng, biếu cho cả 2 người một người giám sát bên ngoài, một người dẫn giải mình trực bên trong. Nếu không có tiền biếu họ thì thời gian gặp chỉ được mấy phút là họ bắt mình vào rồi. Toàn còn nói: Nếu không có nhiều tiền thì không cần gửi lưu ký cũng được, nhưng trước hết phải yêu tiên gửi quà biếu cán bộ quản giáo. Nếu gửi biếu cán bộ 500.000 trở lên thì hãy gửi ở ngoài quán nước, còn nếu dưới 500.000 thì gửi trực tiếp cán bộ giám sát thăm gặp, họ sẽ đưa cho quản giáo mình thôi.
Tôi hỏi Toàn: Nếu thăm gặp gia đình mà không có quà cho cán bộ thì sao? Toàn nói: Nếu gặp gia đình mà không có quà cho cán bộ thì sẽ bị đì. Có thể sẽ bị chuyển xuống buồng Si bi ri. Tiền gia đình gửi vào, mình có mua hàng cũng chưa chắc đã được ăn. Tôi hỏi: sao lại thế? Toàn nói: Nếu cán bộ quản giáo ghét mình rồi thì khi mình mua lưu ký về tới buồng giam, đương nhiên hàng đó không còn là của riêng mình mà là của cả buồng. Cán bộ sẽ bắt mình chuẩn bị tư trang, chuyển đi buồng khác. Hàng mình vừa mua sẽ không được mang đi. Như vậy mình có tiền cũng chẳng được ăn. Hoặc cán bộ chuyển mình tới buồng Si bi ri, cho ở chung với những người không có lưu ký. Mình có được mấy trăm mà cả buồng cùng ăn chung thì chỉ được một  hai hôm sẽ hết. Vì vậy mình phải ưu tiên biếu quà cho cán bộ, cán bộ sẽ xếp mình vào buồng mà anh em sàn sàn đều có lưu ký cả thì đỡ khổ. Anh mới vào không biết đấy, buồng 10 bên cạnh mình đây này, cả buồng không ai có lưu ký, đến muối bột canh còn chẳng có mà ăn, khổ lắm. Tôi hỏi Toàn: vậy tôi thấy buồng mình 3 anh em đã có ai gặp gia đình và biếu quà cho cán bộ chưa? Tôi thấy buồng mình hình như cũng được cán bộ quan tâm. Hàng ngày đều cho thuốc lào hút, nước nôi cũng thấy đủ dùng, cuộc sống tù tuy hơi thiếu thốn nhưng như thế này là cũng chấp nhận được. Toàn nói: A Lào cũng đã biếu cán bộ hai lần mỗi lần 500.000 rồi, thằng Hùa cũng đã  gửi biếu cán bộ một lần rồi. Còn tôi thi gia đình đã làm cơ chế 3 triệu để tôi lên buồng vệ sinh rồi, nhưng vì mới treo cổ tự tử ở nhà giam huyện, nên ban giám thì chỉ đạo phải giam ở buồng này có Ca me ra để theo dõi, chắc khi thấy ổn định thì cán bộ sẽ chuyển tôi lên buồng vệ sinh. Bây giờ tôi tạm ở đây, nhưng tiêu chuẩn của tôi là tiêu chuẩn vệ sinh, nên cán bộ phải cấp thuốc lào đủ để tôi hút, nước tắm và nước uống cũng đảm bảo hơn. Tôi nói: Vậy là tôi vào đây, được hưởng xái của anh em rồi! Tôi chưa có tiền lưu ký, cũng chưa có quà cho cán bộ mà được ở thế này là cũng tốt. Toàn nói: Anh là đối tượng chính trị, cần phải theo dõi, nên buộc cán bộ phải nhốt ở buồng này. Chắc anh không bị chuyển đi buồng khác đâu. Cứ yên tâm, trường hợp của anh không phải cán bộ quản giáo muốn nhốt đâu thì nhốt đâu. Anh là trường hợp đặc biệt nên cán bộ quản giáo muốn chuyển anh đi buồng khác thì phải xin ý kiến của bạn giám thị. Tôi nói với Toàn: Anh em thì làm cơ chế hay biếu quà cáp cho quản giáo chứ tôi thì tôi không làm vậy đâu mà nhà tôi cũng chẳng có tiền để làm như vậy. Tôi chập nhận chịu đựng, cán bộ chuyển đi đâu thì chuyển, có thể khổ nhưng chắc không tới chết đâu. Thời gian cứ chầm chậm trôi qua. Thời tiết những ngày giáp tết mưa thâm thâm, nhiệt độ xuống thấp, ai nấy cứ co ro quấn chăn ngồi cho ấm. Cán bộ quản giáo cho chúng tôi biết là bắt đầu từ ngày 27 âm lịch cho tới ngày mùng 7 tết, trại giam cho phép các bị can được nhận quà tết từ phía gia đình gửi vào như:  Bánh chưng, giò chả, thịt, gà vịt … Toàn cừ ngóng người thân tới gửi quà, Toàn cũng tính: Chắc buồng 9 chỉ có nhà Toàn là ở gần, hơn nữa gia đình Toàn đã có kinh nghiệm thăm nuôi tù, cho nên chắc chắn sẽ tới gửi quà tết cho Toàn, còn lại 3 người chúng tôi, phần thì nhà xa, phần thì chưa có kinh nghiệm nên chắc chẳng có quà tết. Toàn nói: Hy vọng chiều 30 bố Toàn sẽ tới. Những ngày gần tết bị can các buồng giam khác nhận được khá nhiều quà, nhưng buồng 9 chúng tôi thì chẳng nhận được gì. Bữa tôi ngày 30 tết, trại giam bắt đầu cho bị can ăn tiêu chuẩn tết cổ truyền. Mỗi người chúng tôi được một miếng thịt lợn bằng khoảng 3 ngón tay, Hôm đó có khoai tây hầm xương lợn, buồng 9 được chia 4 cục xương lằng nắm tay và mấy miếng khoai tây. Nhìn cục xương lợn to nhưng chẳng dính chút thịt nào. Chúng tôi chỉ biết chua chát mà nói với nhau “ Cám ơn Đảng Chính phủ đã cho chúng ta những cục xương không thể gặp” . Hôm đó cũng có thêm mỗi người được 3, củ hành muối gọi là hương vị tết. Ăn cơn tôi xong, trước khi đóng cửa buồng, chúng tôi được phát mỗi người một chiếc bánh chưng lớn. Vừa đóng cửa buồng xong, Toàn nói: Bánh chứng tết đấy, chắc mỗi ngày một người được một chiếc. Chúng ta bóc 2 chiếc ăn luôn cho ngon, con 2 chiếc để tới giao thừa. Mại trại lại cấp tiếp đấy. Vừa ăn cơm xong vậy mà bóc 2 chiếc bánh chưng ra chúng tôi ăn hết ngay. Đêm đó ai cũng nôn nao nhớ nhà. Đặc biệt tôi mới bị bắt lần đầu lại vào những ngày giáp tết, lòng tôi buồn rười rượi. Toan cố gắng động viên anh em, hãy vui lên, đưng suy nghĩ quá nhiều, cái gì đến ắt sẽ đến, trong tết họ  người thân chưa tới thì ngoài tết họ cũng sẽ tới thôi. Ngồi mãi cũng chẳng có việc gì làm nên, chúng tôi ai nấy lên bục đáp chăn nằm cho ấp. Mới khoảng 22h đêm. Tiếng chìa khóa lẻng xẻng, Cán bộ quản giáo Nguyễn Văn Thành đi vào từng buồng giam chúc tết. Quan giáo dân theo bị can Tuấn, trưởng buồng vệ sinh đi theo bốc cho chúng tôi một vốc kẹo, và cho cả buồng 2 điếu thuốc lá. Cán bộ quản giáo nói: “ Thay mặt hội đồng cán bộ và ban giám thị trại giam, tôi chúc các anh ăn tết vui vẻ, đoàn kết giữ gìn kỷ luật nhà giam. Sang năm ra tòa nhận mức án đẹp đẹp để sơm về đoàn tụ với gia đình” Toàn thay mắt buồng giam chúc cán bộ sang năm mới khỏe mạnh, thăng tiên và làm ăn phát tài. Cánh cửa buồng giam đóng lại. Chúng tôi ăn mấy cái kẹo rồi lại đi nằm. Nằm trong buồng giam nhưng tâm trí tôi cứ suy nghĩ về gia đình. Tôi bắt đầu lẫm nhẩm làm thơ. Mặc dù không có giấy bút, nhưng cảm xúc dâng tràn nên tôi đã nhanh chóng làm xong một bài thơ với tựa đề: Ngàn lá thư không chữ” nội dung như sau:
Cứ mỗi ngày anh viết một lá thư,
Gửi về em trăm thương ngàn nhớ.
Thư anh viết không phải bằng bút mực,
Máu trong tim rạo rực chép trong lòng.
Gửi cho em không qua đường bưu điện;
Chẳng email không điện thoại nhắn tin.
Gửi cho em qua ô cửa nhà tù.
Nhờ gió mây gửi về nơi em ở.
Nhận thư anh chắc em sẽ rõ.
Anh xin lỗi vì thư không có chữ.
Nội dung thư là ngôn ngữ của con tim.
San sẻ cùng em sáng khuya vất vả.
Đã thay anh săn sóc bố mẹ già
Và thay anh chăm lo đàn con dại;
Đã giúp anh thăm nội ngoại họ hàng;
Thăm hội thánh cùng anh em đồng đạo.
Mong họ hiểu rằng anh vô tội.
Án anh mang bởi kính Chúa yêu người.
Nếu xét tội, cộng sản kia có tôi.
Đã bán biên cương biển đảo tây nguyên;
dâng tổ quốc thân yêu cho quỷ dử.
Chúa công bình sẽ xét xử phải không em!
Thư anh viết trong đêm dài cộng sản.
Hẹn gặp em trong anh sáng đa nguyên.
Giờ phút giao thưa chẳng có gì đặc biệt vì buồng giam vẫn đóng cửa, chúng tôi nghe từ ngoài cổng trại, phía hội trường có một tràng súng bắt chỉ thiên, biết giao thưa đã tới. Chúng tôi ngồi dậy dành cho nhau những lời chúc tốt lành, xong lấy 2 chiếc bánh chưng còn lại để ăn giao thừa, ăn bánh xong, tôi đọc cho mọi người nghe bài thơ mình vừa sáng tác xong ai nấy đi vào giấc ngủ.
(Còn nữa)
Kỳ 6 Chuyện về mấy cái giò bò và những ngày sau tết

Sáng mùng 1 tết những bị can trong các buồng giam í ới gọi chúc cho nhau những lời chúc tốt lành. Quản giáo tới mở cửa và mọi sinh hoạt vẫn bình thường như trước.
Ngày mùng 1 và ngày mùng 2 tết chế độ ăn có tăng thêm nhưng cũng chỉ là mỗi bị can được một miếng thịt lợn bằng 3 ngón tay (theo cán bộ nói là một người được 1 lạng). Khi mang đi chia cho các buồng thì những bị can thuộc buồng Vệ sinh chỉ chia cho 4 người 3 miếng. Buồng Vệ sinh ăn chặn đi một miếng nhưng không ai dám thắc mắc vì sợ nếu nói ra thì khi đi phát thuốc lào họ sẽ không phát cho buồng của mình. Ngoài mỗi người được một miếng thịt to thì chúng tôi được mấy củ hành muối, một cục xương và mấy miếng khoai tây.
Ngày tết tù cứ nặng nề trôi đi, thì ra tiêu chuẩn tết mỗi bị can được một chiếc bánh chưng, nhưng buồng chúng tôi đã “xử lý” hết ngay từ đêm giao thừa, nên từ ngày 1 trở đi chúng tôi không còn để thưởng thức nữa. Chiều mùng 3 tết Toàn nhận được quà gia đình gửi vào. Bố Toàn gửi vào 2 chiếc giò bò mỗi chiếc khoảng 1kg, một con gà luộc khoảng 2 kg, một hộp thịt kho (trong đó có cả thịt lợn, thịt gà), một hộp bánh Nhãn (một loại bánh được làm bằng bột nếp và trứng gà to bằng quả Nhãn). Vậy là bây giờ tết mới thực sự đến với buồng chúng tôi. Toàn vui lắm vì mấy ngày này Toàn trông mong mãi. Nhận quà xong, Toàn nhờ mấy phạm nhân thuộc buồng vệ sinh đưa hộ một số thịt kho và bánh Nhãn cho buồng 8 và buồng 10 để chia sẻ niềm vui cho anh em.
Bữa ăn tối chúng tôi chật vật với 2 chiếc giò bò. Vì là loại giò không xay bột mà gói bằng những miếng thịt lớn, chúng tôi dùng dây chỉ để cắt, nhưng thịt dai quá. Nếu ở ngoài loại giò này người ta phải dùng dao sắc thái thật mỏng, nhưng ở trong tù thì không thể làm vậy. Dây chỉ cắt vào thịt bò thì đứt dây chứ không đứt giò. Dùng thìa nhựa xắn cũng không được vì thìa nhựa mà chúng tôi dùng là loại thìa rất mỏng. Cuối cùng phải dùng đuôi của chiếc bàn chải đánh răng xắn dò ra thành miếng, mỗi người cầm một miếng đưa lên miệng cắn xé. Thật lúc này chúng tôi ăn miếng giò bò mà chẳng khác gì loài chó gặm xương. Không ăn thì lại phụ lòng người thân, bỏ đi thì tiếc mà thực ra ai cũng đang thèm, nên dù khó cũng cố mà ăn bằng hết. Con gà luộc thì chúng tôi để sang ngày hôm sau.
Đúng như Toàn nhận định, ngoài Trần Thế Toàn nhận được quà của gia đình trong dịp tết, còn lại 3 người chúng tôi thì chẳng có tin tức gì của gia đình. Thời gian trôi đi chầm chậm nhưng điều gì đến phải đến: sáng ngày 10 tháng giêng (âm lịch) tôi bắt đầu bị hai viên an ninh điều tra đưa đi lấy lời khai. Một người là trung tá Trần Hữu Văn, một người là đại úy Phan Đình Huy. Họ đưa tôi ra phòng cung, hỏi thăm rất thân mật, họ hỏi tôi tết ăn uống thế nào? Ở trong buồng giam, tôi có bị ai bắt nạt hay đánh đập gì không? Họ hỏi tôi có nhắn gửi gì về gia đình không? Trả lời xong các câu hỏi mang tính xã giao xong. Trung tá Văn bắt đâu đi vào công việc. Đại úy Huy làm nhiệm vụ ghi chép. Họ hỏi tôi về các mối quan hệ với những người trong nước, nhưng linh mục Nguyễn Văn Lý, linh mục Phan Văn Lợi, anh Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn… Tôi trả lời rằng: Ngoài Linh mục Nguyễn Văn Lý là một người tù bị bịt miệng trước tòa ra thì tôi không quen biết ai trong số họ. Họ hỏi tôi về mối quan hệ giữa tôi và chị Hồ Thị Bích Khương như thế nào? Tại sao gia đình tôi lại nuôi con của chị Khương?…
Tôi chợt nhớ lại lời dặn của Trần Thế Toàn mấy hôm trước. Vào một buổi tối Toàn có bảo tôi: “Tết xong chắc vài hôm nữa anh sẽ phải đi cung. Lựa đó mà khai. Cái gì không thể dấu thì khai ngay để họ thấy rằng mình thành khẩn. Cái gì giấu được thì cứ giấu tới cùng, dù họ có đe dọa thế nào cũng đừng khai”. Tôi nhanh nhảu trả lời ngay: “Tôi và chị Bích Khương có mối quan hệ là Mục sư và tín đồ. Lý do con trai chị Khương tới học ở nhà tôi vì trong thời gian chị đi tù trước đây, cháu Đức ở nhà lêu lổng, học hành chẳng đâu vào đâu, nên chị đưa ra nhờ tôi dạy kèm cho cháu học”.
Họ đưa ra một số bài viết của chị Hồ Thị Bích Khương và của tôi rồi hỏi anh có biết đây là bài viết của ai không? Tôi khẳng định những bài viết ghi tên tôi là bài của tôi, còn những bài ghi tên chị Khương thì tôi không rõ, cái này các anh hãy hỏi chị Khương (những bài này họ in ra trong email của tôi). Sau đó họ lại đưa ra một số bài khác cũng có tên của tôi, nhưng không rõ họ lấy từ đâu ra. Họ hỏi tôi anh có công nhận đây là bài viết của anh không? Tôi trả lời: Tôi không biết các anh lấy ở đâu ra những bài viết này vì vậy tôi không ký. Họ nói: nhưng tên tác giả là tên anh mà?! Tôi trả lời: Có rất nhiều người có tên giống tôi, hoặc ai đó lấy tên tôi để viết, tôi không đồng ý cách các anh lấy thông tin từ đẩu đâu vào để ghép tội tôi.
Buổi lấy lời khai đầu năm mới, cũng kết thúc nhanh chóng chỉ trong vòng khoảng 1 tiếng. Họ đưa tôi về buồng. Trước khi đưa tôi vào buồng điều tra viên Trần Hữu Văn đưa cho tôi một gói thuốc lá Ngựa (trị giá khoảng 15.000đ). Anh nói: Thủ trưởng cơ quan gửi cho chú gói thuốc. Tôi nói: Tôi không lấy đâu! Trong buồng giam chúng tôi không có lửa, bình thường tôi không hút thuốc. Anh nói: Cứ cầm vào hút cho đỡ buồn, vào buồng cho anh em họ hút chung. Tôi cầm gói thuốc và nói: Tôi cầm vì nể anh nhưng chưa chắc đã mang vào tới buồng giam. Trung tá Văn nói: Để tôi nói với quản giáo cho chú mang vào. Khi tới nhà giam Điều tra Văn gọi Quản giáo Thành lại nói nhỏ gì đó. Tôi cầm gói thuốc lá đi nhanh về buồng 9 đưa qua song sắt cho Toàn và đứng chờ quản giáo mở cửa. Sau khi nói chuyện với điều tra của tôi xong, quản giáo Thành cầm chìa khóa đi lại phía tôi chia tay hỏi: Gói thuốc đâu rồi? Đưa đây! Tôi lúng túng hỏi lại: Thuốc nào ạ? Quản giáo nói: Thuốc lá điều tra vừa đưa cho anh, anh đưa đây tôi! Tôi chỉ vào trong buồng và nói: Tôi đã đưa cho anh em rồi. Quản giáo bảo Toàn nộp gói thuốc ra, ông ta cầm lấy gói thuốc, mở cửa buồng cho tôi vào. Một lúc sau Tuấn vệ sinh đi lại gọi Toàn ra và đưa cho Toàn khoảng 10 điếu thuốc lá loại Con Cò (trị giá khoảng 2000 đồng). Tuấn nói: Cán bộ đưa cho buồng 9 mấy điếu, hút thuốc này thôi nhé, buồng này không đủ tuổi hút thuốc Ngựa! Buổi tối hôm đó Toàn nói với tôi: Quản giáo nhờ em khuyên anh nên thành khẩn khai báo. Nếu khuyên được anh thì buồng mình sẽ được ưu ái quan tâm hơn. Tôi hỏi Toàn: Vậy chú định khuyên anh thế nào? Toàn nói: Tùy anh thôi! Cán bộ dặn thì em phải nhận lời, nhưng anh cũng lựa sao cho em không khó xử với cán bộ mà vẫn tốt cho anh. Toàn bắt đầu chỉ cho tôi thêm vài cách ứng phó với điều tra. Toàn nói: Những gì mà họ lấy ra trong máy tính, tức tang chứng vật chứng đầy đủ thì anh không nên chối, vì anh có chối họ vẫn lấy đó làm bằng chứng khép tôi anh. Còn những gì họ hỏi mang tính khai thác thì anh phải giả như mình ngơ ngác không hiểu biết gì. Họ thường khai thác các mối quan hệ của anh, từ đó suy đoán ra những việc anh làm. Nếu anh không khéo là anh sẽ bị họ đưa vào bẫy. Chỉ cần một chút sơ hở họ có thể khai thác anh để bắt thêm bạn bè của anh. Tôi cẩn thận nói với Toàn: Thực ra tôi có quen biết ai đâu chú. Ngoài chị Hồ Thj Bích Khương ra tôi chẳng quen biết ai cả. Tôi chỉ là Mục sư, đơn thuần mối quan hệ của tôi chỉ là mối quan hệ với những người có cùng đức tin. Tôi cũng chẳng có gì phải che dấu. Tôi chỉ viết mấy bài lên án những cái xấu trong xã hội vẫn còn cả trong máy tính tôi đó thôi. Nếu tôi là người làm chính trị chuyên nghiệp thì làm gì tôi lại để lại bài viết trong email và máy tính như vậy. Toàn cười và nói: Anh đã thuộc bài rồi đấy! Tôi rất cám ơn Toàn vì những gì cậu đã chỉ cho tôi, tuy nhiên tôi vẫn cẩn thận khi trò chuyện về những gì liên quan tới vụ án và các mối quan hệ của mình, vì biết đâu Toàn đang dùng phương pháp nào đó để khai thác tôi giúp cho công an!
Đúng như Toàn dự đoán, kể từ hôm đó trở về sau cứ mỗi tuần tôi phải đi cung 2 lần. Tổng cộng tôi phải đi cung khoảng 50 buổi. Trong các buổi cung tôi áp dụng những gì Toàn đã chỉ cho. Có những vấn đề như tôi biết gì về Khối 8406, Đảng Dân Chủ, Đảng Việt Tân…Tôi có quen biết ai ở nước ngoài không? Họ thường hỏi đi hỏi lại. Tôi đều không biết gì cả. Có khi họ còn nó kích tôi: Anh là mục sư mà sao quan hệ kém thế? Chị Khương chỉ là tín đồ mà chị ấy quên biết nhiều vậy? Tôi bảo tôi không biết chị Khương quên biết những ai, tôi thì tôi chỉ có mối quan hệ trong hội thánh thôi, mà mối quan hệ đó tôi không phải khai báo cho các anh). Khoảng ngày 20 hay 22 sau tết tôi nhận được 500.000 tiền Lưu ký do điều tra viên gửi thay cho gia đình.
Khoảng ngày 15 hay 20 tháng giêng âm lịch. Cậu Tuấn vệ sinh trưởng bị đưa ra tòa xét xử và chuyển đi giam nơi khác. Trần Thế Toàn được chuyển từ buồng 9 lên làm trưởng buồng vệ sinh. Buồng giam số 9 đón một thành viên mới tên Nguyễn Văn Cầu, là người ở xã Nam Diên (Văn Diên) huyện Nam Đàn. Anh Cầu nhiều tuổi hơn tôi, anh cũng đã đi tù lần thứ 2, lần này anh bị bắt về tội đánh bạc. Người này được đưa từ buồng 5 (buồng sỹ quan) xuống buồng 9 để làm nhiệm vụ giám sát tôi. Chỉ trong 3 ngày sống chung với anh Cầu chúng tôi đã thấy anh là người xã giao rất kém, bản lĩnh chẳng ra gì. Mặc dù được giao nhiệm vụ nhưng anh Cầu không thể gần gũi trò chuyện với cả 3 chúng tôi. Có trò chuyện thì chỉ là chuyện vặt vãnh trong buồng.
Thấy anh Cầu không “quản lý” nổi chúng tôi nên quản giáo Thành đưa thêm một phạm nhân từ buồng 7 sang buồng chúng tôi. Cậu này tên là Võ Văn Quang, người ở xã Nghĩa Khánh, huyện Nghĩa Đàn. Quang cũng đi tù lần này là lần thứ 2. Lần này Quang bị bắt vì tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Quang được giao làm buồng trưởng buồng 9. Tuy Quang khéo léo hơn anh Cầu nhưng cũng không thể được như Trần Thế Toàn. Quang không hướng dẫn hay giúp tôi được gì về kinh nghiệm tù tội, cũng chẳng trò chuyện nhiều. Quang rất ghét anh Cầu nên bảo tôi: Từ nay anh Tôn không phải rửa bát nữa. Anh Cầu vào buồng sau hơn anh Tôn, nay trở đi anh Cầu phải rửa bát. Thấy thương anh ấy nhiều tuổi mà bị Quang đối xử rất khắc nghiệt, nên vẫn thường giúp đỡ anh một vài việc. Có lần Quang bắt anh Cầu phải ăn riêng vì anh Cầu ăn uống mất vệ sinh. Quang nói với tôi: Thằng cha Cầu này không có tiền lưu ký mà ăn uống hỗn, lại tham và bẩn. Từ này phần cơn của hắn hắn ăn. Chúng ta không ăn chung với hắn nữa. Để hắn một mình một gô, muốn ăn sao thì ăn. Suốt ngày Quang kiếm cớ chửi anh, tôi khuyên Quang bỏ qua cho anh Cầu, thông cảm để anh em ăn chung cho gần gũi. Tôi cũng góp ý để anh Cầu lựa cách sinh hoạt phù hợp với anh em. Buồng giam 5 người mà mỗi bục nằm chỉ nằm được 2 người, nên một người phải năm dưới “Xa lộ”. Quang dành phần nằm dưới lối đi mối khi ai đó trong buồng đi lại ban đêm rất bất tiện. Anh Cầu hay đi tiểu đêm hôm mỗi khi đi tiểu, anh hay gây ồn, hoặc đá phải vào chăn của Quang nên Quang khịa chuyện mấy lần định đánh anh.
Khoảng ngày 20 hay 25 tháng giêng âm lịch, chiều muộn thấy có người dìu một bị can nữa vào buồng giam số 9. Người này không được khỏe nên tôi nhường cho cậu nằm trên bục chỗ tôi nằm. Cậu tên là Võ Minh Phước. Người ở Nghi Lộc. Phước Bị đưa về buồng giam trong tình trạng bụng đang bị băng bó, vết thương vừa rút chỉ. Buồng giam chật hẹp chỉ khoảng 7 – 8 mét vuông nhưng giam tới 6 người trong đó có một người đang trong tình trạng bệnh tật. Kể từ hôm đó A Lào và anh Cầu ngủ chung một bục. Quang và Hùa nằm dưới “xa lộ” còn tôi và Phước nằm chung.

Còn nữa!
Thanh Hóa ngày 2/7/2014
Nguyễn Trung Tôn

Kỳ 7 Một câu chuyện nhỏ về Võ Minh Phước
Đêm đầu tiên vào buồng, Phước ngủ không yên, cậu cứ gãi khắp người, một lát lại vào hố vệ sinh ngồi đi tiểu nhưng đi không được.
Tôi hỏi Phước: Em bị bệnh gì mà lạ thế, hay lâu ngày không tắm rửa mà ngứa ngáy vậy? Vết mổ có ảnh hưởng gì tới thận không sao đi tiểu khó vậy?
Phước nói với tôi: Không sao đâu, đây là bệnh “nghề nghiệp” thôi!
Tôi không hiểu gì về câu trả lời của Phước. Đêm đó tôi và Phước đắp chung một cái chăn, Phước cứ cựa quạy, làm tôi thức giấc hoài.
Sáng dậy tôi lại hỏi Phước: Em bị bệnh gì mà khổ thế? Nếu bệnh tật như vậy sao không xin nằm viện cho ổn hẳn hãy về? Phước cười trông méo cả miệng nhưng phải nói Phước vẫn rất điển trai.
Không khí cả buồng giam trở nên  trầm lắng khi Phước bắt đầu vào câu chuyện. Phước kể: Trước đây Phước làm nghề lái xe khách chạy đường dài. Phước lấy vợ đã có một đứa con trai.Vợ Phước là một hành khách quen, thường đi xe của Phước vào Nam ra Bắc để làm ăn. Cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho họ… Vợ Phước không trung thủy, mỗi khi Phước vắng nhà thì cô thường cặp bồ với người đàn ông khác, Phước cũng vậy. Cậu chán cảnh gia đình chẳng mấy khi về nhà, cậu thường qua đêm với nhiều phụ nữ khác. Cuộc đời Phước dần dần lún vào con đường nghiện ngập. Cậu bị bắt vào tù với bản án 7 năm về tội buôn bán trái phép chất ma túy. Cải tạo trong trại giam số 3 huyện Tân Kỳ – Nghệ An, Phước tiếp túc tìm cách móc nối với nhiều người và buôn bán Ma túy trong trại giam, để có tiền thỏa mãn cơn nghiện của mình.
Phước kể: Trước khi bị bắt, Phước có nghiện Ma túy nhưng chưa bị nhiễm HIV. Vào trại giam được vài năm, vì môi trường sống không đảm bảo an toàn, nên không biết Phước nhiễm bệnh từ đâu. Khi biết mình đã nhiễm căn bệnh hiểm nghèo, Phước sống buông thả hết mình. Phước nói đời cậu coi như đã hết có còn gì phải giữ! Trong tù Phước buôn bán Ma túy và bơm kim tiêm cho các con nghiện khác. Phước kể rằng không ở đâu buôn bán thứ hàng đó dễ và có lời hơn trong nhà tù. Phước thường lấy hàng từ những người khác, về chia ra thành tép một và bán lẻ cho con nghiện, kiếm lời để sinh hoạt trong tù. Trong đường dây của Phước có một Trung tá công an quản giáo tên là Miên, cùng nhiều tù nhân khác. Thông qua quản giáo Miên, người bên ngoài gửi hàng vào trại. Quản giáo Miên giao lại cho đồng bọn và cứ thế phân phối cho các con buôn nhỏ ở các buồng đội. Nhiều người ở ngoài xã hội không nghiện nhưng khi vào tù ở cùng với những người nghiện, hàng ngày chứng kiến họ sử dụng, được mời gọi dùng thử cho vui, vậy là đã trở thành con nghiện. Kim tiêm trong trại giam mà con nghiện bán cho nhau vào thời điểm năm 2010 với giá là 50.000 đồng một chiếc. vì giá cả đắt đỏ nên cứ người này dùng xong, người kia lấy súc qua nước lại dùng lại.
Tôi nghe Phước kể mà rùng cả mình. Tôi hỏi Phước: Thế ở tù như vậy các tù nhân lấy đâu ra nhiều tiền để có thể nghiện ngập được?
Phước nói: Tù mà! Là con nghiện rồi thì có nhiều cách để kiếm tiền. Có thể là buôn bán thuốc lá thuốc lào, có thể là buôn bán Điện thoải di động, hoặc có nhiều người gia đinh chu cấp, cũng có người dùng cách nhắn tin cho bạn bè người thân để xin thẻ cào điện thoại vào bán lấy tiền… Tôi không rõ lắm về cách kiếm tiền của họ nhưng không hỏi thêm. Phước nói tiếp: Vào cuối năm 2010, có thể đã có người làm đơn tố giác lên tổng cục 8 và Bộ công an về tình trang buôn bán ma túy và điện thoại trong trại giam, nên tổng cục 8 và Bộ công an đã chỉ đạo tiến hành các chuyên án để triệt phá nhiều đường dây mua bán ma túy trong trại giam số 3 Tân Kỳ. Đường dây của Phước bị bắt 7 người  trong đó có trung tá quản giáo tên Miên. Phước kể tiếp: Cán bộ trại giam cũng có tình có nghĩa với ông Miên, nên trước khi đọc lệnh bắt ông, họ đã gọi ông lên đọc quyết định cho ông về hưu trước thời hạn sau đó mới bắt ông. Nếu không ông ta mất hết. Nếu chưa về hưu thì ông sẽ bị tước quân tịch, như vậy ông sẽ mất hết chế độ lương hưu sau này.
Tôi hỏi Phước:  Sao Phước phải nằm viện và lại bị mổ bụng như vây?
Phước nói: Tính đến cuối năm 2010 thì Phước đã ở tù được 5 năm, nếu không gặp sự cố trên thì chắc Phước đã được tha tù. Không ngờ lại bị phát hiện vụ việc mới và bắt đưa về trại tạm giam. Trong những ngày nằm ở trại tạm giam, không có ma túy, cơn nghiện đã hành hạ Phước, đặc biệt là mấy ngày tết quá buồn càng làm cho Phước nhớ tới “bạn tình” của mình. Phước nằm suy nghĩ mọi cách để có thể có mà dùng. Vào một hôm quản giáo chính của nhà B1 trại tạm giam công an tỉnh Nghệ an nghỉ trực trong lúc quản giáo mất cảnh giác, Phước đã dùng kéo đâm vào bụng mình. Ruột Phước loài ra ngoài, Trại giam vội vàng gọi xe cấp cứu cho Phước vào bênh viện Đa khoa tỉnh Nghệ an để cấp cứu. Rất may là nội tạng Phước không việc gì. Tại bệnh viện mặc dù có hai chiến sỹ công an đi theo để canh gác, nhưng Phước vẫn có thể gặp được người nhà và bạn bè của cậu. Cậu nói: Chỉ cần cho mấy tay công án mấy trăm, để chúng  lờ đi cho mình trò chuyện với người nhà.
Tại đây Phước đã cùng gia đình lên kế hoạch để làm hồ sơ xin tạm hoãn thì hành án để trị bệnh. Cũng tại bệnh viện, bạn bè Phước đã mang ma túy vào cho cậu chích đã cơn thèm khát. Phước nói tiếp: Trước khi bị đưa từ bệnh viện về buồng giam Phước vẫn dùng một liều nên khi đêm cậu vẫn còn trong tình trạng phê thuốc, nên mơi có những hành động như tôi kể ở trên. Phước nói rằng: Phước có một người em con chú tên là Võ Hải Đăng, làm phó phòng của cơ quan cảnh sát phòng chống ma túy Nghệ An. Phước hi vọng sau lần Phước nằm ở viện vừa rồi, Phước đã nhắn được mẹ mình bảo người đó lo cho Phước hồ sơ để hoãn thi hành án. Cậu mong rằng sau khi kết thúc điều tra ra tòa xử rồi cậu sẽ được về với gia đình để trị bệnh.  Phước sinh năm 1974, là một người đẹp trai, vui tính nhưng cũng rất lì lợm.
Hình như cậy mình là người đã nhiễm HIV nên các cán bộ quản giáo không ai muốn đụng vào nên cậu bất chấp những quy định cấm được ghi trong nội quy trại giam. Buồng 9 là buồng có Camera theo dõi, từ khi tôi vào ở đó cho tới khi gặp Phước. Không ai dám đun nấu hay làm gì vi phạm trong buồng, vì sợ bị phát hiện, ( ngoại trừ hút thuốc Lào nhưng mỗi khi hút, Trần Thế Toàn đều phải dùng khăn để vắt lên che Camera lại) . Nhưng khi Phước vào buồng chỉ sau một đêm thôi, cậu đã thay đổi hết những sinh hoạt trong buồng. Tôi hôm đó Phước bảo Quang, dùng chai nhựa làm nồi, buộc dây vào cổ chai treo lên trên bức tường lững ngăn cách bục nằm và hố vệ sinh, dung vỏ bào mì tôm và các loại túi bóng để đùn nước sôi pha trà uống. Tôi nào cũng vậy, cứ quản giáo đóng cửa buồng giam là buồng chúng tôi bắt đầu đùn nấu. chỉ băng 2 chiếc chai nhựa, một chiếc làm nồi đun lại thức ăn cho nóng, một chiếc dùng để đun nước sôi pha trà. Buồng giam chật chội, lại thêm cái khỏi của túi ni lông làm ngộn ngạt vô cùng.
Tôi không thích cách làm đó của Phước, nhưng biết có góp ý cũng chẳng ăn thua gì nên mắc để Phước và Quang làm sao thì làm. Nhiều hôm trong buồng hết thuốc lào hút. Phước gọi đi các buồng khác để hỏi xin. (Phước nghiện thuốc lào nặng, cậu hút liên tục, nên lượng thuốc mà quản giáo cho mỗi ngày không đủ). Phước dùng chiếc tất cuộn tròn lại, lấy túi bóng se dây, nối dài ra rồi buộc dây vào chiếc tất đã cuộn tròn. Cậu đứng ra cửa thò tay qua ô thoáng. Nén chiếc tất đã nối dây sang trước cửa của buồng giam khác. Người trong buồng giam khác đồng ý cho Phước thuốc Lào cũng phải dùng một chiếc dây tương tự, buộc một đầu vào chiếc bàn chải đánh răng, đứng trong buồng quang bàn chải ra ngoài, khi 2 sợi dây tréo vào nhau, người kia sẽ kéo dây về buồng mình, gói thuốc Lào và buộc vào đầu dây thả ra, vậy là Phước kéo về buồng. (Sau này tôi mới biết họ gọi cách làm này là “đi cẩu”). Phước có thú vui thích “đi cẩu” nên hầu như tôi nào cậu cũng cứ làm vậy để mua vui và giết thời gian. Những buồng xung quanh cũng chiều Phước, khi Phước xin gì nếu có là họ cho ngay. Đôi khi Phước lại gọi họ hỏi họ có cần gì, nếu buồng 9 có là Phước lại “đi cẩu” để cho họ. Phước sống tại  nhà A1a chỉ mấy ngày nhưng nhiều người biết tới cậu. Trần Thế Toàn làm vệ sinh trưởng cũng rất quan tâm tới buồng chúng tôi. Không bao giờ để buồng chúng tôi thiếu thốn nước nôi hay các tiêu chuẩn gì của trại. Thậm chí nhiều khi Toàn còn cho buồng chúng tôi nhiều hơn các buồng khác.
Sống với chúng tôi trong buồng chỉ khoảng 15 ngày thì Phước ngã bệnh và bị đột quỵ, không tự đi lại được, nên cán bộ quản giáo đã đề nghị chuyển cậu xuống điều trị tại nhà bệnh xá của trại giam. Phước để lại khá nhiều kỉ niệm đối với chúng tôi.
Thanh Hóa ngày 3/7/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 8 Một câu chuyện nhỏ của Lầu Vả Rùa
Vào một hôm trước khi Trần Thế Toàn chuyển đi buồng khác. Biết mình sắp phải ra tòa chia tay anh em buồng 9. Lầu Vả Rùa (A Lào) kể cho tôi nghe cậu chuyện của cậu về những khổ sở mà cậu đã trải qua trong nhà giam này trước khi tôi vào buồng.
A Lào chầm chậm nói từng từ:
Anh Tôn đi tù mà rất may mắn đấy! Em là người nước ngoài, khi bị bắt vào đây em khổ lắm anh ạ! Tiếng Việt em không thạo, nghe thì có hiểu đôi chút nhưng nói không được. Khi vào buồng 9 này em ở với thằng Tú  người dân tộc Thái, ở Quế Phong, nó làm buồng trưởng. Thằng đó nó ác lắm anh ạ! Biết em không biết nói tiếng Việt, lại là người Hmong nên nó bắt nạt. Vào buồng nó dùng khăn che Camera lại, bắt em nằm xấp xuống xa lộ, nó ngồi trên bục dùng gót chân gót vào sau lưng em nhiều cái khiến em không thở được, em tưởng là mình long mất phổi. (Nó gọi như vậy là “Cuốc chim”). Sau khi Cuốc chim xong, nó bắt em ngồi thẳng lên, hai tay úp xấp bên dưới mông. Lưng tựa và bục nằm, nó vẫn ngồi trên bục dùng gót chân ướm vào ngực em nhè nhẹ, rồi bất ngời giáng liêm tiếp 3 cái làm em gần tắt thỏ ngã quỵ xuống, nó túm tóc dựng em dậy, đánh tiếp 2 cái nữa (nó gọi đấy là “Thông ngực”). Nó hỏi em có đau không? Em không trả lời được, nó bảo thằng này điếc rồi! Nó lấy đôi dép tông, một chiếc bịt tai bên này, một chiếc nó cầm và vả vào tai bên kia, xong bên này 3 cái, nó đổi bên và vả bên kia 3 cái. Khiến em gần như long óc. ( Nó gọi đó là “Thông tai”). Sau khi làm mấy thủ tục đó em tưởng mình không thể nào sống được. Nó dặn em phải nghe lời, ngoan ngoãn, không được láo, nếu không nó sẽ cho ôn “lại bài”.
Từ hôm đó nó chỉ cho em 2 ngày tăm một lần, 2 ngày đi đại tiện một lần. Trời nắng nóng nhưng em không dám tắm, mặc dù nước không thiếu, nhưng nó chỉ chia cho em được dùng một xô nước, nếu đi đại tiện xối nước rồi thì không còn nước tắm. Lúc em mới vào buồng, em có mấy trăm tiền lưu ký. Nó lấy mua hết thức ăn, bánh kẹo vào buồng. Bánh kẹo thì nó ăn một mình, nó thích cho ai thì cho, thức ăn như thịt, cá, nó chỉ chia cho mỗi người mỗi bữa một ít, còn nó thì thích ăn bao nhiêu thì ăn. Sau một tuần, em hết tiền lưu ký thì Tú không cho em ăn chung cùng cả buồng nữa. Nó bắt em ăn riêng một mình. Cơm tù canh trại, thiếu cả muối ăn, nhiều hôm em ăn lạt cả tuần rồi sau đó xin được buồng khác gói muối bột canh, em lại ăn quá mặn, thành ra em bị phù nề, người lại không được tắm rửa sạch sẽ, em bị ghẻ khắp người. Có hôm em tắm rồi nhưng do ăn uống mặn lạt thất thường nên đau bụng. Em đánh liều xin Tú cho em tắm. Tú không cho, nó bắt em dốc đầu xuống đất cho đỡ đau. Chịu không được em đánh liều cứ đi đại tiện. Tú đánh em một trận nhừ tử, em uất lắm muốn báo với cán bộ quản giáo nhưng không biết phải nói thế nào!
Rất may là hôm điều tra viên tới lấy cung em có mang theo một người phiên dịch tiếng Hmong. Qua người phiên dịch em đã trình bày câu chuyện đó với điều tra viên, và điều tra viên đã nói với cán bộ. Sau hôm đó cán bộ chuyển thằng Tú đi buồng khác. Còn em mấy hôm sau được họ đưa đi bệnh xá của trại để điều trị. Sống với thằng Tú gần một tháng mà em tưởng chừng như cả năm. Sau khi từ bệnh xá về lại buồng 9 A Lào ở với một người khác tên Tú người ở Vinh. Người này lại rất thương A Lào. Tú cho A Lào tắm ngày 2 lần, xin thuốc tra ghẻ cho A Lào.
Mấy hôm sau Thò Bá Chư (Thò Gà Hùa) vào buồng. Kể từ đó Tú người Vinh, bảo Hùa tập cho A Lào nói tiếng Việt. Ở với Hùa 6 tháng, ngày nào Hùa cũng tập cho A Lào nói, bắt đầu từ những từ đơn giản, đến các từ phức tạp bây giờ A Lào đã nói được tiếng Việt. Hôm đó sắp chia tay tôi. A Lào dùng chỉ cắt chiếc bàn chải đánh răng ra rồi lại dùng dây chỉ bảo tôi cùng cậu rọc một thanh nhựa của bàn chải dài khoản 10 cm nhỏ bằng đầu đũa. Cậu mài mài rủa rủa, cần mẫn làm tặng cho tôi một chiếc mọc ráy tai, một đầu mài nhỏ nhọn để làm tam xỉa răng, một đầu cậu mài xong dùng lửa uốn cong lại tạo thành hình một chiếc móc tai xinh xắn. A Lào nói, em tặng anh chiếc móc tại này làm kỉ niệm. Khi nào anh dùng thì nhớ tới em nhé! Anh nhớ cầu nguyện cho em để em không phải bị kết án tử hình. Tới môi trường cải tạo em gặp được những người bạn tốt.
Tôi rất cảm động khi nghe câu chuyện A Lào kể lại, đặc biệt là hai món quà kỉ niệm mà A Lào đã làm tặng cho tôi. A Lào còn dặn dò tôi rất cẩn thận: Anh phải khôn kéo làm sao đừng phải ăn đòn trong tù anh ạ. Ở trong này thuốc men không đầy đủ, mình mà ngã bệnh thì chỉ có nước chết thôi, nếu không chết thì cũng mang bệnh tật về nhà anh ạ. Anh chưa chứng kiến đấy thôi, cán bộ quản giáo ở đây họ đánh tù ác lắm anh ạ. Nếu phải ăn đòn của họ thì kinh khủng lắm. Khi nào anh ra tù, nếu còn khỏe mà em không bị tử hình, nhớ cầu nguỵện cho em, nếu biết tin em ở đâu anh gửi cho em một lần quà anh nhé!
Tôi nghẹn ngào cám ơn A Lào vì đã quan tâm tới tôi. Cậu cũng đã gửi gắm tâm tình và chắc giờ này A Lào đang mong tin tức của tôi!
A Lào ơi! Anh xin lỗi em nhé! Anh được tin em bị xử với mức án trung thân, chúc mừng em vì đã thoát án tử hình, tuy nhiên anh đành phải xin lỗi em. Anh không biết giờ này em bị giam ở trại nào, hơn nữa anh lại đang bị quản chế nên chưa tìm kiếm được thông tin của em. Anh sẽ cầu nguyện cho em được bình an, mạnh khỏe. hi vọng Chúa sẽ cho anh có cơ hội gặp lại em ở ngoài xã hội, để nói lới cám ơn em thêm lần nữa.
Thanh Hóa ngày 4/7/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 9 Buồng Trưởng Võ Văn Quang
Võ Văn Quang bị bắt vào ngày 22/12/2010 tại huyện Tân Kỳ khi Quang và một người bạn tới đây để lấy Hê-rô-in, trên đường trở về Nghĩa Đàn, Quang bị công an phục bắt, khám xét. Quang bị tạm giữ tại công an huyện Tân Kỳ, sau đó bị chuyển tới trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An trước tôi  khoảng 20 ngày. Quang bị giam trong buồng 8 nhà A1a, gần buồng mà tôi bị giam.
Vào buổi tối một ngày gần tết, chắc do nhớ nhà, buồn vì tết nhất gần tới lại càng nhớ nhà hơn, các bị can trong buồng cùng bắt nhịp để hát tập thể. Họ hát liên khúc: Từ một tới năm; bắt đầu từ bài “ Một con vịt xòe ra hai cái cánh… cho tới Năm anh em chung một chiếc xe tăng…” Khi họ đang hát tập thể như vậy thì bị một cán bộ trực vào nhắc nhở, đánh dấu buồng.
Tưởng mọi chuyện chỉ dừng ở đó, không ngờ sáng mai, khi vừa mở cửa buồng giam xong, cán bộ quản giáo Nguyễn Văn Thành (Thành Cao), gọi cả 7 bị can buồng 8 ra trước cửa buồng xếp thành hàng ngang. Cán bộ bảo họ ngồi xuống, ông cầm chiếc thước gỗ  lim lần lượt bảo mọi người ngồi chồm hổm xuống, sau đó một chân co, một chân hơi duỗi ra. Cán bộ dùng chân đi giày đinh của mình dẫm lên mu bàn chân hơi duỗi để giữ cho chắc dùng thước gỗ lim đập mạnh vào hai bên mắt cá chân mỗi người từ 3 tới 5 cái. Tay đập vào mắt cá chân của các bị can, miệng hỏi “Tối qua chúng mày hát bài: “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” nhưng thằng nào là thằng cầm lái”?
Quản giáo hỏi từng người một: Thằng nào? Thằng nào cầm lái khai mau?
Các bị can không ai khai ra người khởi xướng, mà khi tới phiên họ bị đánh họ chỉ nói:  “Con xin ông, con xin ông tha cho, con biết lỗi rồi xin ông tha cho con”.
Tiếng thước lim đập vào mắt cá chân xen lẫn tiêng kêu xin của các bị can làm cho khu vực buồng giam số 8 và số 9  nóng lên, mặc dù thời tiết ngoài trời đang rất giá lạnh, nhưng khi ngôi trong buồng 9 nhìn ra thấy các bị can la hét vì đau đớn mà mồ hôi chảy ra như giữa trưa hè!
Sau khi đánh đồng loạt cả buồng xong, quản giáo Thành chỉ vào mặt bị can Phạm Văn Đồng và nói:  Mày có nhận không? Tao biết mày là thằng cầm đầu! Mày thần kinh hả? Tao đánh cho mày hết thần kinh luôn! (Bị cáo Phạm Văn Đồng có giấy chứng nhận bị bệnh tâm thần)
Cốp, cốp, cốp!!! Ba tiếng thước lim liên tục đập vào mắt các chân của Đồng làm cậu ta quằn quại đau đớn. Quản giáo quát tiếp: Thằng này, thằng này và thằng này nữa, vào gấp tư trang để chuyển buồng. Quản giáo chỉ vào Phạm Văn Đồng, Võ Văn Quang và một người nữa. Quản giáo sai Tuân vệ sinh trưởng, đưa Phạm Văn Đồng người thành phố Vinh xuống buồng 2, Võ Văn Quang sang buồng 10 còn một người khác đi buồng nào tôi không rõ. Nhìn các bị can, hai tay ôm chăn màn, quần áo, chân bước đi khập khiễng những bước nặng nên đau đơn mà tôi xót xa cho họ. Tôi không biết rồi đây có bao giờ mình cũng phải rơi vào hoàn cảnh như họ phải chịu hôm nay không?!
Tôi tự nhủ mình: Nếu một ngày nào đó bị đối xử như vậy chắc chắn tôi sẽ phản kháng lại. Nếu như tôi vi phạm nội quy trại giam tới đâu tôi sẽ chấp nhận chịu kỷ luật theo mức độ tới đó, nhưng nếu đánh đòn tôi như đã đánh họ thì tôi không thể nào chấp nhận. Sau khi bị chuyển sang buồng 10 là buồng “Si bi ri” Võ Văn Quang phải ăn tết ở buồng đó, đối với Quang những ngày tết ở buồng 10 là những ngày đen tối nhất của Quang trong giai đoạn tạm giam. Ngày mùng 4 tết, gia đình Quang tới thăm có gửi cho Quang một ít quà. Trong đó có cả cá kho, Quang có chia cho buồng 9 một ít. Qua lần xuống trại giam gửi quà, gia đình Quang đã gầy dựng được mối quan  hệ với một quản giáo trại giam tên Hùng, biệt danh Hùng sát thủ.
Theo như Quang kể thì  khi còn ở ngoài làm nghề lái xe khách, Quang đã có mối “quan hệ tốt”  với một số Cảnh sát giao thông. Trong đó một người tên Sơn là bạn học với quản giáo Hùng. Nên khi biết Quang bị giam ở trại này, CSGT Sơn đã gọi điện cho bạn mình là Hùng sát thủ, để nhờ Hùng giúp đỡ Quang trong thời gian bị giam giữ. Vì có mối quan hệ bắc cầu đó nên sau ngày mùng 4 tết Quang được chuyển trở lại buồng 8 và sau đó là sang làm buồng trưởng buồng 9. Cũng nhờ mối quan hệ đó mà nhiều khi quản giáo Hùng đi qua đi lại thường hay cho Quang thuốc lá thuốc lào… Thỉnh thoảng còn hỏi Quang có nhắn gửi gì về gia đình không? Quang nói rằng gia đình Quang cũng không phải khá giả nhưng họ cũng rất thương Quang. Vợ và em trai Quang sẵn sàng bỏ tiền để chạy chọt cho Quang được mức án nhẹ nhất có thể và sau đó sẽ chạy cho Quang tới môi trường cải tạo nhẹ nhàng.
Kể từ khi vào buồng 9, hàng ngày Quang thường được quản giáo Thành cho gọi ra gặp để nói chuyện. Không biết trò chuyện gì, nhưng mỗi khi đi gặp cán bộ về, Quang lại cầm theo về buồng một nắm thuốc lào. Tôi nhớ rất kỷ bài học ba không ba có mà Trần Thế Toàn đã dạy cho, nên không hỏi Quang những chuyện đó. Tôi nghi ngờ Quang được quản giáo giao nhiệm vụ gì đó rất quan trọng, có thể là liên quan tới tôi.
Bởi Quang hay hỏi tôi về những việc làm của tôi trước đây, và có lúc Quang xui tôi rằng:  Nếu anh muốn được về Thanh hóa cho gần gia đình, mỗi khi vợ thăm nuôi cho tiện, anh nên khai ra một vụ việc nào đó mà anh đã làm tại Thanh Hóa, có thể Công an Nghệ An họ sẽ báo cho Thanh Hóa di lý anh ra Thanh Hóa, để điều tra và giam anh ngoài đó thì anh sẽ có cơ hội gần gia đình hơn. Đã nhiều lần Quang bảo tôi như vậy.
Tôi chỉ trả lời đơn giản: Tôi có gây án gì đâu chú! Án của tôi không phải do tôi gây ra, mà tôi bị bắt vì tôi đã đấu tranh để góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Tôi bị bắt hay bị kết án thế nào đều là do lối suy diễn của công an và tòa án dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo đảng Cộng sản!
Sống chung với Quang trong buồng 9 khoảng chừng 3 tháng, tôi cũng đã chứng kiến Quang làm “thủ tục” với nhiều bị can khi họ mới bị đưa vào buồng. Trong số đó tôi nhớ nhất là việc Quang thông tai, thông ngực và cuốc chim 2 người. Một là cậu Nguyễn Trường Giang, người Tân Kỳ. Cậu Giang gầy, nhỏ chắc chỉ nặng khoảng 40 kg. Khi vào buồng, sau khi chịu xong các thủ tục “nhập buồng” Giang tái xanh mặt mũi, nằm xõng xòai dưới Xa lộ. Nhìn Giang tôi thấy rất thương nhưng chẳng giúp được gì nhiều, ngoài việc cho Giang mượn quần áo để mặc, âm thầm hướng dẫn Giang giữ mình.
Hai là cậu Khiêm  người Nghi Lộc, cậu này thì không chỉ bị một lần “thủ tục”. Cậu này dáng vẻ thư sinh, mới 18 tuổi nhưng cậu đã nghiện ngập phá phách và theo như cậu kể thì người yêu của cậu đã có bầu, nếu không bị bắt lần này thì có thể cậu đã cưới vợ. Khiêm hống hách, khoác lác. Khi mới bị bắt vào, thấy bữa ăn trưa có một miếng thịt mỏng, bữa tối chỉ có chút rau mà không có thịt cá gì. Chúng tôi phải bỏ tiền lưu ký để mua nước mắm, thịt kho và cá Nục vào để ăn thêm. Khi ăn cơm, Khiêm không ăn thịt của trại, chúng tôi hỏi sao không ăn? Khiêm nói, Khiêm không ăn thịt mỡ.
Thịt kho chúng tôi mua, có chút nạc nào thì cậu ăn, nếu không cậu nói rằng: Thà em ăn nước mắm chứ không ăn thịt mỡ và cá nục. Tôi bảo Khiêm: Ở ngoài em có là công tử gì đi nữa thì vào đây cũng phải tập tành ăn uống khổ sở cho quen. Khiêm nói: Ở nhà em chỉ ăn cá Thu ẩu và thịt Bò, Mẹ em biết tính em rồi, chắc ít hôm nữa mẹ sẽ gửi vào cho em! Chỉ 3 ngày sau, khi ăn cơm đã thấy Khiêm lấy cá nục ăn, Khiêm ăn cả miếng thịt mở mỏng do trại cấp. Ăn cơm xong Khiêm đi rửa bát. Quang hỏi tôi: Anh thấy thế nào? Có nên cho thằng này ôn lại bài không? Thằng này mình mà không dạy nó cẩn thận  thì sau này sang Nhà chờ nó sẽ khổ! Tôi nói: có gì nhắc nhở cho nó hiểu, đừng đánh nó nữa.
Buổi tôi hôm đó vừa đóng cửa buồng giam xong. Quang gọi Khiêm và bảo ngồi xuồng Xa lộ. Quang ngồi trên bục và hỏi: Mày có biết mày có tội gì không?
Khiêm ngơ ngác chẳng hiểu gì nên trả lời: Em không biết! Có gì mong anh chỉ cho em.
Quang không nói gì mà nắm tay đấm vào ngực Khiêm mấy cái. Sau đó mới nói: Mày tưởng mày là Công tử con nhà giàu hả? Mày có nhớ hôm mới vào đây mày nói sao không?
Khiêm trả lời: Em không nhớ, mong anh nhắc cho em.
Quang nói mày lú lẫn hả? Để  tao thông óc cho mày nhé! Quang Lấy dép và vả vào tai Khiêm.
“Thông tai” xong lại hỏi: Mày nhớ chưa? Khi vào đây mày nói mày chỉ ăn cá Thu ẩu và thịt Bò, mày không ăn cá Nục và thịt mỡ. Sao hôm nay mày lại ăn? Tạo trị mày cái tội hót vặt nói phét.
Khiêm xin Quang tha thứ và xin sẽ rút kinh nghiệm, kèm theo lời hứa: Anh tha cho em, ít hôm nữa mẹ em vào sẽ gửi quà cho em và làm cơ chế cho cán bộ. Em sẽ lên buồng Vệ sinh, khi đó em sẽ đền ơn anh. Khiêm nói mà chẳng hiểu mình nói gì, làm Quang tức giận.
Mày dọa tao hả? Mày định nói là mày sẽ lên buồng Vệ Sinh và sẽ trả thù tao phải không?
Uỵch, uỵch, uỵch!
Quang lại tặng thêm cho Khiêm ba phát thông ngực. Đau quằn quại, Khiêm khóc van xin mãi. Quang tha cho nhưng cảnh cáo thêm rằng: Nếu còn có thái độ ngu xuẩn nữa thì đừng trách. Hôm sau Khiêm xin gặp cán bộ quản giáo. Tưởng Khiêm báo cáo chuyện bị đòn, nhưng không phải vậy. Khiêm gặp cán bộ để xin được viết thư cho mẹ và nhờ Quan giáo gọi về nhà cho mẹ để sơm lo tiền cho Khiêm được lên buồng vệ sinh. Không biết quản giáo có đồng ý không, nhưng trưa hôm đó Toàn Vệ sinh trưởng đưa cho Khiêm mượn cái bút để viết thư. Chẳng biết Khiêm viết những gì, và gửi qua ai, nhưng khi gửi thư được rồi Khiêm tin tưởng rằng chẳng bao lâu nữa Khiêm sẽ thoát khỏi Quang, và có thể sẽ làm Vệ Sinh trưởng.
Vì nghĩ trong lòng như vậy nên Khiêm vẫn chứng nào tật nấy. Có hôm cả buồng đang ngủ trưa, Khiêm không ngủ được, mở túi bóng đường xúc ăn một mình. Khiêm đang ngồi sấp cật, vừa đút thìa đường vào miệng thì nghe đánh uỵch một cái. Tôi nhìn sang thấy Khiêm đã văng vào hố vệ sinh. Thì ra Quang đã để ý mọi hành động của Khiêm, đây không phải lần đầu mà là lần thứ hai Khiêm ăn vụng đường. Quang gọi Khiêm ngồi dẫy đi ra trước mắt Quang. Quang quát: Mày quỳ xuống! Mày vừa làm gì vậy? Mày vào buồng, mày chưa có một đồng nào, mày ăn uống nhờ của anh em, đã vậy mày lại còn đợi anh em ngủ để mày ăn vụng. Nếu mày thèm quá, muốn ăn thì mày phải xin anh em cho mày ăn chứ sao mày làm vậy? Khiêm nói em xin các anh tha cho em. Em thèm ngọt quá vì mấy hôm nay không có thuốc nên em rất khó chịu. Em xin thì sợ các anh không cho nên đã làm bậy. xin anh tha cho em.
Quang lại cho Khiêm “ôn bài”. Ở trong buồng 9 được khoảng 1 tuần, Khiêm đã có người nhà tới thăm. Khi ra găp mẹ về, vẻ mặt Khiêm tưởi tỉnh hẳn lên, không biết mẹ Khiêm đã hứa với cậu những gì. Chiều hôm đó vừa mở cửa buồng giam, đã thấy cán bộ quản giáo gọi Khiêm ra và bảo: Mày lên gặp ban giám thị!
Xong quản giáo gọi tôi ra và hỏi: Mấy hôm này anh biết trong buồng có xảy ra chuyện gì không? Anh có biết thằng Khiêm nó viết thư gửi qua ai không? Tôi bảo tôi không biết nó gửi ai và viết thư nói gì và trong buồng giam vẫn bình thường. Quản giáo Thành nói: Nó đi gặp gia đình ăn nói lung tung, mẹ nó gặp Ban giam thị đưa thư nó gửi về nói xấu trại giam. Anh có biết ai xui nó làm vậy không? Tôi nói: Tôi không biết. Quản giáo cho tôi vào buồng và dặn: Nếu Ban giám thị có hỏi anh thì anh lựa nói cho khéo nhé.
Quản giáo lại gọi Quang ra nói chuyện. Khi Quang về buồng thì kể cho chúng tôi biết: Thằng Khiêm nó gửi thư về nhà nói năng lung tung. Nó bảo mẹ nó phải lo cho nó 10 triệu để nó lên buồng Vệ sinh, nó còn nói nếu không có tiền nó sẽ bị giam với những người ghẻ lở, hắc lào và HIV. Mẹ nó mang thư đó cho ban giam thị để trình báo, nên Ban giám thị đang gọi nó ra để hỏi chuyện. Sau khi đi gặp Ban giám thị về, Khiêm bị cán bộ vào đọc biên bản kỷ luật vì lý do viết thư về nhà bôi nhọ cán bộ và nói xấu trại giam. Khiêm bị kỷ luật với hình thức cùm chân 7 ngày và cắt thăm nuôi một tháng.
Quang nói với cả buồng: Thằng đó bị kỷ luật là đáng, nhưng nếu nó không thay đổi thì sau này có chuyển đi đâu nó cũng sẽ khổ!
Thanh Hóa ngày 6/7/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 10 Cựu Bí Thư Xã Đoàn – Nguyễn Trường Giang
Như những chuyến xe Buýt chạy trên đường với kẻ lên người xuống thay nhau, sau tết khoảng nửa tháng, buồng giam số 9 liên tục biến động về con số. Sau khi Võ Minh Phước phải chuyển đi nhà giam bệnh xá, anh Nguyễn Văn Cầu được về tại ngoại. A Lào và Thò Gà Hùa bị đưa ra tòa xét xử rồi chuyển đi nơi khác, buồng chúng tôi đón một người tên Hải quê ở Nghi Lộc, sau mấy hôm cậu lại làm cơ chế và được chuyển lên buồng Vệ sinh. Cậu Khiêm thì bị đi kỷ luật vì viết thư về nhà nói “xấu” trại giam. Còn lại Võ Văn Quang, tôi và Nguyễn Trường Giang, sau thì thêm cậu Nguyễn Văn Thành người Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Như trong kỳ trước tôi có nhắc tới một người tên là: Nguyễn Trường Giang. Vào một buổi chiều muộn, cánh cửa ngoài chuồng cọp buồng chúng tôi được mở, nhìn ra chúng tôi thấy quản giáo Thanh dẫn theo một bị can, dáng người nhỏ bé, gầy xanh mà râu quai nón rất rậm, tay ôm một bọc nhỏ bước vào buồng. Cánh cửa đóng lại, cậu cúi đầu chào: Chào các anh!
Không có tiếng trả lời… Cậu ôm cái bọc nhỏ đứng giữa xa lộ. Quang quát: Thằng này mày ở đâu vào? Đứng lại đầu kia! (Quang chỉ vào góc buồng gần hố vệ sinh). Giang ngoan ngoãn ôm bọc đồ nho nhỏ đứng vào phía hố vệ sinh.
Tôi bảo cậu: Em đưa bọc đồ đây anh cất cho. Tôi cầm bọc đồ của cậu, (trong đó chỉ có một bộ quần áo củ) để lên đầu bục nằm. Cậu ta cứ đứng đó mãi. Thấy vậy tôi bảo cậu ta ngồi lên bục. Một lát sau đã tới giờ ăn tối, chúng tôi ăn cơm xong thì cánh cửa buồng giam đóng hẳn cả cửa trong lẫn cửa ngoài. Tuy trời chưa tối nhưng đối với bọn tù chúng tôi thì màn đêm đã bắt đầu. Sau khi tiến hành thủ tục nhập buồng, cậu giới thiệu tên tuổi nghề nghiệp cho chúng tôi biết. Tối hôm đó Nguyễn Trường Giang nói với chúng tôi rằng cậu đã bị nhiễm HIV.
Sáng hôm sau, Quang giao cho tôi nhiệm vụ se râu cho Giang. Tôi bảo Giang nằm xuống, gối lên đùi tôi, và se râu cho cậu ta. Râu của Giang vừa dày vừa tốt, lại rất cứng vì là râu quai nón. Se râu cho Giang mà nhiều khi thấy máu cậu rớm ra, nước mắt cũng ứa ra xung quanh. Tôi biết là Giang rất đau nhưng không dám kêu la. Tôi lại rất sợ máu của cậu mang vi rút HIV, lỡ tôi sơ sẩy mà để máu cậu dinh vào những chỗ xây xước trên người tôi thì rất nguy hiểm. Sau vài ngày đã quen với môi trường sinh hoạt, Giang kể cho chúng tôi nghe về những câu chuyện của bản thân mình.
Giang quê ở xã Đà Sơn, huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An. Gia đình Giang định cư lên huyện Tân Kỳ và sinh sống ở đó, tuy nhiên từ nhỏ Giang vẫn ở lại quê với ông bà nội và học tại đó. Sau khi tốt nghiệp cấp 3, Giang được bố đưa về sống chung với gia đình. Giang sinh hoạt Đoàn thanh niên Cộng sản HCM, cậu được chọn làm bí thư chi đoàn rồi trở thành Đảng viên ĐCS và sau đó làm Bí thư đoàn xã. Trong thời gian làm Bí thư xã đoàn, cậu giao du tiếp xúc với nhiều người; tuổi trẻ năng động, nhưng cũng đối diện với nhiều cám dỗ. Chỉ trong thời gian ngắn Giang đã bắt đầu nghiện Heroin. Giang nói cán bộ xã nơi cậu làm Bí thư đoàn có rất nhiều người nghiện, tuy nhiên họ rất kín đáo. Trong số những con nghiện làm cán bộ xã cậu chơi thân và hay trao đổi, chia sẽ hàng hóa với một người làm Trưởng ban văn hóa xã; cả hai đã trở thành bạn nghiện với nhau.
Với mức thu nhập của một Bí thư xã đoàn không thể đủ cho Giang thỏa mãn những cơn nghiện càng ngày càng dày hơn. Giang đành phải xin nghỉ công tác với lý do phải về quê nội chăm sóc ông bà, nhưng thực ra Giang xin chuyển sinh hoạt Đảng về quê Đô Lương để tìm cách cai nghiện. Giang nói rằng cậu đã nỗ lực khá nhiều nhưng không được, thế nhưng cô người yêu của Giang vẫn chưa biết cậu nghiên Ma Túy. Đầu năm 2010 cậu cưới vợ, và lại về Tân Kỳ ở. Vào một hôm cậu nói với gia đình là ra Hà Nội có công việc, nhưng thực ra là cậu xuống Vinh. Vừa bước trên xe xuống tại bến xe Vinh. Cậu đang lâng láo quan sát xung quanh, ngay lập tức có một người xe lai ghé lại hỏi nhỏ: Anh muốn mua hàng hả?
Giang hỏi: Giá cả thế nào cho một tép?
Người kia nói: Chỉ 200.000 đồng.
Vừa nói vừa bảo Giang ngôi lên xe để đi lấy. Giang ngoan ngoãn lên xe của người “bạn mới”, anh ta đưa Giang tới một nơi mà anh ta cất hàng. Người đó cầm gói Heroin đưa cho Giang rồi lấy tiền. Giang lại ngồi lên xe anh ta và hỏi: Lấy đâu ra “súng” được? Người xe lai đưa Giang đi một đoạn thì dừng xe lại và chỉ vào một hiệu thuốc tây bên kia đường nói: Sang kia mà lấy “súng”.
Giang xuống xe, người đó vù đi, bỗng từ đâu có mấy công an ập vào vồ lấy Giang, khi trên tay cậu đang cầm gói Heroin vừa mới mua chưa kịp dùng. Giang bị đưa về nhà tạm giam công an thành phố Vinh, bị tra tấn tới tấp. Cuối cùng cậu bị khởi tố với tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Giang cho tôi biết, khi còn bị giam tại nhà tạm giam công an thành phố Vinh, cậu bị tay buồng trưởng đánh đập rất nhiều. Cậu nói rằng những thủ tục mà hôm vào buồng 9 cậu phải chịu, thực ra cậu cũng đã phải chịu ở nhà tạm giam trước đó rồi. Bị bắt được khoảng 3 ngày thì điều tra viên đã mang tới một thông báo khai trừ đảng của chi bộ đảng nơi cậu sinh hoạt đối với cậu.
Giang tỏ ra rất tiếc vì bị khai trừ khỏi đảng. Tôi nói với Giang: Bị khai trừ đảng thì có gì ghê gớm mà phải tiếc. Bây giờ người ta còn tuyên bổ bỏ Đảng đầy ra đấy. Em có tin rằng sau này đất nước có dân chủ đa nguyên, người ta sẽ thấy rất xấu hổ vì đã từng là đảng viên đảng Cộng sản không? Em theo học trong trường của đảng và qua thời gian làm Bí Thư xã đoàn em có thấy đảng có gì tốt đâu mà phải tiếc vậy?
Nghe tôi nói vậy, Giang tỏ ra bất bình với tôi, Giang nói: Anh nói gì thì nói nhưng anh nói xấu Đảng như vậy là không ổn.  Gia đình em đã 3 đời là đảng viên, ông nội em, bố em, và bây giờ là hai anh em em. Anh phải biết nếu không có Đảng thì đất nước không thể được như ngày hôm nay. Nghe những gì Giang nói tôi thấy rất buồn trong lòng và cũng thấy bực. Một người đã từng là Bí Thư xã đoàn, lại là một con nghiện, bây giờ là một bị can với tội trạng liên quan tới Ma túy, (một tệ nạn đang giết dần dân tộc). Vậy mà cậu vẫn còn có thái độ muốn “ dạy dỗ” tôi về lý tưởng Cộng sản và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Tôi hỏi Giang: Anh đồng ý với em là  nếu không có đảng cộng sản thì đất nước chúng ta không có ngày hôm nay. Một đất nước vừa nghèo nàn vừa lạc hậu, một dân tộc anh hùng đã bị đảng cộng sản đánh cắp lòng yêu nước.
Giang nói với tôi: Tưởng anh yêu nước thế nào, bây giờ nghe anh nói, anh chống đảng Cộng sản, như vậy thì anh bị bắt đi tù là phải rồi!
Tôi hỏi lại: Thế theo em thì em bị bắt có oan không?
Giang nói:: Oan chứ! Mình mất tiền mua, chưa được dùng đã bị bắt, mà mình nghiện thì mình mất tiền của mình, mình đâu có lấy trộm của ai. Nếu bắt thì bắt những kẻ buôn bán và sản xuất, đàng này bắt mấy con nghiện thì quá là oan.
Vậy em có biết ma túy là hàng Quốc cấm không?
Giang nói: Có chứ! Nhưng nếu không có bọn sản xuất ra nó và bọn buôn bán đưa về thì người ta có muốn nghiện cũng chẳng có mà nghiện.
Tôi nói: Em nói phải lắm! Theo em thì tại sao ma túy là hàng Quốc cấm mà nó vẫn xuất hiện đầy rẫy trên thị trường chợ đen vậy?
Giang trả lời: Thì do bọn buôn lậu đưa về. Tôi lại hỏi: Theo em vì lý do nào mà bọn buôn lậu có thể đưa về nhiều thế? Trong khi em chỉ mua có một tép đã bị bắt?
Giang nói: Thì họ có đường dây với nhau, trong đó có thể có cả công an hay hải quan, hoặc có thể có cả các ông lớn.
Tôi tiếp lời: Như vậy thì đã rõ rồi em nhé. Nếu đảng ta trong sạch thì làm gì để tệ nạn tràn lan như vậy được.
Giang vẫn cứng đầu: Nhưng đại đa số đảng viên vẫn là người tốt, những kể xấu chỉ là một bộ phận nhỏ thôi.
Tôi hỏi tiếp: Vậy sao chỉ có một số ít mà đảng không thể nào loại bỏ ra được?
Giang nói: Bởi đường dây của chúng có những quan lớn trong đó nên họ bao che cho nhau.
Tôi nói: Như em đã biết, đảng ta tự xưng là rất sáng suốt mà! Sao không thể điều tra và loại bỏ được những lãnh đạo cấp cao nào đó như em đã nói?… Cuộc tranh luận giữa tôi và Giang chưa có hồi kết. Giang vẫn cho rằng tôi chống Đảng là có tội, còn tôi thì muốn nói với Giang rằng, chính cái đảng mà cậu đã từng phục vụ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến đất nước nghèo nàn lạc hậu. Biết rằng mình không thể đi xa hơn được nữa về vấn đề này; bới nếu như buồng trưởng Quang mang chuyện đó báo cáo với quản giáo thì tôi sẽ bị kỷ luật theo điều 9 của nội quy nhà giam. Tôi chỉ nói thêm với Giang một điều cuối cùng về những gì chúng tôi vừa nói: Em cứ nhìn chính em thì em sẽ biết, tư tưởng đạo đức HCM và lý tưởng cộng sản tốt tới đâu. Kể từ nay chúng ta sẽ không tranh luận chủ đề này nữa!
Giang ở trong buồng 9 cùng tôi được khoảng 1 tháng.  Khoảng thời gian này theo Giang nói thì vợ cậu mới sinh, bố cậu làm cán bộ xã nên xấu hổ vì có đưa con như cậu nên có lẽ ông không đi thăm, có lần cậu em trai tới thăm nhưng cũng chẳng gửi gì cho cậu cả. Giang sinh hoạt trong buồng cùng chúng tôi, tất cả những gì chúng tôi có thì đều cho cậu dùng chung. Giang có đọc số điện thoại của em trai mình cho tôi học thuộc, để nhờ tôi mượn điều tra viên của tôi gọi điện về bảo em cậu tới thăm và gửi tiền, nhưng cũng chẳng thấy gia đình gửi gì cho cậu cả. Sau thời gian sống chung lâu dần cậu mới nói với tôi rằng cậu không bị nhiễm HIV nhưng cậu cố tình khai như vậy, để hy vọng khi gặp gia đình sẽ nhắn để gia đình lo chạy cho cậu cái bệnh án giả may ra trong quá trình xét xử, cậu sẽ được hưởng mức án thấp.  Chỉ một thời gian rất ngắn sống chung với một cựu Bí thư đoàn thanh niên Cộng sản, một cựu đảng viên đã được xem như thoái hóa biến chất, tôi vẫn còn nhận ra trong con người của Giang cái “giá trị” của Tư tưởng đạo đức HCM và lý tưởng Cộng sản, còn rất đậm. Cậu vẫn còn mang cái ảo mộng “đại đồng” của đảng vẻ ra. Không biết sao những năm tháng phải chịu án tù trong môi trường mất hết tự do đó Giang nó có làm cho Giang thức tỉnh hay nó lại càng biến Giang trở thành kẻ xấu xa hơn!
 (Còn nữa!)
Thanh Hóa ngày 9/7/2014
Nguyễn Trung Tôn
Ky 11 Gặp Lại Chị Hồ Thị Bích Khương
Vào một ngày của tháng 5/2011 tôi  không nhớ rõ ngày. Tôi thấy trực trại tên là Vi Văn Sơn vào nhà A1a đọc lệnh trích xuất tôi ra khỏi trại giam.
Thượng sĩ Vi Văn Sơn hỏi tôi: Tên gì?
Tôi trả lời: Tôn.
Thượng sĩ Sơn: Họ Tên gì?
Tôi: Nguyễn Trung Tôn.
Thượng sĩ Sơn: Quê quán?
Tôi: Thanh Hóa.
Thượng sĩ Sơn: Địa chỉ đầy đủ là gì?
Tôi: Thôn Yên Cổ, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Thượng sĩ Sơn: Bị bắt ngày nào?
Tôi: 15/01/2011.
Thượng sĩ Sơn: Tội gì?
Tôi: Không có tội.
Thượng sĩ Sơn: Bị khởi tố tội danh gì?
Tôi: Tôi bị khởi tố theo điều 88 BLHS.
Thượng sĩ Sơn: Anh có lệnh trích xuất khỏi trại giam, anh theo tôi!
Tôi không biết tại sao mình lại được trích xuất khỏi nhà giam! Có phải chăng mình lại bị chuyển đi nơi khác để điều tra thêm gì đó?!
Thượng sĩ Sơn dẫn tôi ra cổng trại giam, tại đây tôi thấy đại úy Phan Đình Huy, điều tra viên thuộc cơ quan An ninh điều tra tỉnh Nghệ an đã chờ sẵn tôi ở đó. Sau khi làm thủ tục tiếp nhận bị can, đại úy Huy lấy còng ra, còng một tay tôi vào phía sau chiếc xe máy của cậu ta và đưa tôi đi tới Cơ quan An ninh điều tra của tỉnh Nghệ an, thành phố Vinh, nằm trên đường ra thị xã Cửa Lò. Tại đây cả Trung tá Văn Bá Thu, (người đã thay cho Trung tá Trần Hữu Văn người điều tra tôi lúc ban đâu) và đại úy Phan Đình Huy bảo tôi ngồi đợi vị kiểm sát viên tới làm việc.
Đợi một lúc lâu thấy một nữ Kiểm sát viên tới, qua giới thiệu thì tôi biết người này tên là Ngân, người đại diện cho Viện Kiểm Sát; thụ lý vụ án của tôi. Tiếp sau đó là 2 nhân  viên kỹ thuật vi tính của Công an tỉnh Nghệ an cũng tới. Khi đã đầy đủ các thành phần họ mang máy tính và điên thoại đã thu giữ tại nhà chị Hồ Thị Bích Khương ra để mở niêm phòng và định tiến hành khai thác. Khi họ đưa những thứ đó ra yêu cầu tôi xem dấu niêm phong và ký tên để tiên hành kiểm tra, nhưng tôi không đồng ý. Tôi đã đưa ra lý do là những vật dụng này thu giữ tại nhà chị Hồ Thị Bích Khương, mặc dù trong đó có máy ảnh, USB và điện thoại của tôi, nhưng khi thu công an đã không cho tôi được chứng kiến và ký vào biên bản tạm giữ, vậy nên tôi không đồng tình. Sau một hồi tranh cãi, cuối cùng họ buộc lòng phải tạm hoãn điều tra hôm đó. Họ đưa tôi trở lại trại giam.
Khoảng 8h sáng ngày hôm sau, trực trại là trung úy Lê Tuấn Anh vào trại đưa tôi đi theo lệnh trích xuất như hôm trước, nhưng lần này không hỏi kỹ như hôm trước nữa. Ra tới cổng trại đã thấy có một chiếc xe thùng (loại xe chuyền dùng để chở tù) đứng đợi sẵn. Đại úy Huy mở cửa xe và bảo tôi vào ngồi trong đó. Một lát sau thấy 2 nữ công an dẫn chị Hồ Thị Bích Khương ra, một nữ điều tra viên áp giải chị lên xe thùng, họ ngồi luôn trong thùng xe, giám sát để chúng tôi không thể “thông cung”.
Nhìn chị Khương sau khoảng 3 tháng tạm giam, tôi thấy chị gầy hơn trước rất nhiều, chị cho tôi biết chị đã bị một công an lôi kéo ép chị điểm chị vào hồ sơ bị can, nên xương vai trái của chị, nơi đang ghép đinh đã bị gãy trở lại nên chị hay đau. Chị nói với tôi rằng chị đã được gặp gia đình một lần vì chị đề nghị họ cho gặp cháu Đức con chị và các chị gái để ủy nhiệm quyền nuôi dưỡng cháu Đức. Tôi cũng nói qua cho chị biết hoàn cảnh của tôi trong buồng giam và cho tới thời điểm đó tôi vẫn chưa được gặp gia đình.
Tới Cơ quan An ninh điều tra, họ tách chị Khương lên gác 2, còn tôi thì ngồi dưới tầng trệt. Hôm đó người làm việc với tôi là Trung tá Trần Hữu Văn và Trung úy Huy, người làm việc với chị Khương là Trung tá Văn Bá Thu và mấy kỹ thuật viên cùng kiểm sát viên tên Ngân. Họ lại đưa những thứ đã thu giữ tại nhà chị Khương ra để tiến hành khai thác. Một lúc sau họ mang xuống chỗ tôi một chiếc máy ảnh của tôi, một USB, của tôi và 2 điện thoại di động. Họ tiến hành mở USB của tôi ra kiểm tra, nhưng trong đó không có gì ngoài danh sách các hội thánh tại Thanh hoa do tôi phụ trách và một số bài giáo lý của đạo Tin Lành. Máy ảnh của tôi cũng chẳng có hình ảnh gì quan trọng ngoài những hình ảnh tôi chụp chuồng heo nhà cô em gái. Hai điện thoại của tôi một cái không chứa danh bạ và danh sách liên hệ, một cái hết pin, mà không có loại cục xạc nào của An ninh cắm vào được. Họ định đi lấy xạc đa năng để cắm, tôi bảo họ không phải cắm sạc vào điện thoại đó nữa, vì đó là, một cái điện thoại hư của con trai tôi, nhờ tôi mang đi sửa. Thấy tôi nói vậy họ cũng thôi, không kiểm tra nữa. Không biết họ khai thác được gì từ chị Khương không, nhưng tôi tin chắc những vật dụng của chị Khương cũng chẳng có gì trong đó. Họ loay hoay mãi nhưng chẳng lấy được thêm gì từ các phương tiện đã thu giữ của chúng tôi tại nhà chị Khương. Gần trưa thấy một nữ công an cầm một tời giấy do chị Khương viết cho tôi. Nữ công an này nói: Con Khương nó bảo anh viết cho nó bài học gì đó về đạo.
Tôi cầm tờ giấy đó thì thấy chị Khương viết rằng: Nhờ mục sư chỉ  lại cho Bích Khương phải làm thế nào để hướng dẫn và cầu nguyện cho một người tiếp nhận Chúa trong tù để họ chịu Báp Têm (tương tự phép Rửa của đạo Công giáo). Tôi viết vào giấy mấy nguyên tắc cơ bản về vấn đề mà chị hỏi rồi đưa cho nữ công an này cầm lên cho chị Khương. Một lát sau cô này lại chạy xuống nói: Anh Tôn ơi con Khương bảo không phải nó hỏi cái này. Cô lại đưa cho tôi một miếng giấy trong đó chị Khương lại hỏi tôi là phải làm sao cho các tù nhân nhận rõ tội lỗi và ăn năn để được cứu rỗi. Tôi lại viết hướng dẫn gửi lên. Một lát sau nữ công an kia lại chạy xuống đưa tôi một miếng giấy khác: Anh xem con Khương nó hỏi anh cái gì này. Tôi cầm giấy xem, lần này chị Khương lại hỏi tôi, làm sao để một tử tù có thể nhận biết Chúa?
Lần này thì Trung Tá Văn nỗi dận với nữ công an kia: Mày là con ngây hả? Sao cứ để cái con Khương điên đó sai vặt vậy? Mày đi làm việc hay tới đây cho con Khương biến may thành con rồi vậy?
Nữ công an kia bật khóc và xị mặt xuống nói: Thì con Khương nó bảo, nếu không hỏi được những việc đó thì nó không chịu ký. Chú Thu bảo cháu làm thì cháu làm chứ, sao chú lại chửi cháu?
Trung tá Văn bắt đầu lên lớp cho nữ công an trẻ một bài: Mày đi làm lâu rồi mà ngu thế hả? Mắc lừa cả cái con Khương điên, nó lừa mày cho hết thời gian, nó biến mày thành con rối. Nó ký thì ký, không ký thì thôi, việc gì phải làm đầy tớ cho nó.
Thời gian nhanh chóng trôi đi, 11h trưa họ nghỉ ăn cơm trưa. Họ dẫn tôi xuống nhà ăn của đơn vị, ngồi ăn cùng mâm với tất cả các thành viên của họ, còn chị Khương thì họ đưa vào một phòng khác cho một nữ công an canh gác rồi đưa cơm tới cho chị.  Trong bữa ăn kiểm sát viên tên Ngân gắp thức ăn bỏ vào bát cho tôi, vừa ăn họ vừa nói chuyện. Kiểm sát viên nói với tôi: Anh Tôn là mục sư, sao lại đi theo con Khương làm gì? Thôi lỡ lần này thôi, anh thành khẩn khai báo, vụ này ra tòa chúng tôi sẽ đề nghị xử anh án treo cho anh về. Thật tôi nghiệp cho vợ anh. Một tay nuôi 3 đưa con nhỏ, trong đó một đưa bệnh tật, một đưa học cấp 3 con một đưa mới 2 tuổi, lại thêm bố mẹ anh đã hơn 80 tuổi cả rồi. Có mấy chị em gái thì họ ở xa. Tôi nghe vợ anh nói chuyện mà thương cô ấy quá. Nếu anh thành khẩn khai báo, nhận tội và xin khoan hồng thì anh sẽ được thả về sơm, bởi vị gia đình anh là gia đình liệt sỹ, hơn nữa anh cũng chỉ bị con Khương lôi kéo thôi.
Tôi trả lời: Cám ơn chị đã quan tâm tới hoàn cảnh gia đình tôi! Đúng là vợ tôi rất vất vả, nhưng nói thật với chị thì tôi đâu có tội gì đâu. Tôi chỉ viết mấy bài phê phán sự bất công trong xã hội, chứ có làm gì nên tội. Ở một đất nước tự do thì những việc làm của tôi phải được khuyến khích. Tôi cũng chẳng còn gì để khai cả, bới có gì tôi đã nói hết từ ban đầu. Ba bài viết đó là do tôi viết và phổ biến trên mạng, ngoài ra chẳng còn gì khác. (Nếu các anh các chị thương vợ tôi thật sự thì hãy cho vợ chồng tôi được gặp nhau. Sao đã hơn 3 tháng rồi các anh các chị không cho vợ tôi vào thăm tôi?)
Kiêm sát Ngân nói: Thì anh cứ thành khẩn khai báo, sớm có kết luận điều tra thì anh sẽ được gặp gia đình.
Ăn cơm xong, tôi ngồi uống nước một mình trong nhà ăn, nhìn về phía buồng họ đang giữ chị Khương, thấy cô nữ công an đang đứng canh trước cửa buồng trong khi chị đang ngồi ăn. Chị vừa ăn xong, nữ công an mang bát đĩa đi, cửa khép lại. Chị Khương đẩy cửa bước ra. Phía trước phòng đó có một cây xoài rất sai quả, có một số quả gần chín. Chị Khương bước tới bứt 5 hay 6 quả. Cô nữ công an vội chạy tới lôi chị Khương ra khỏi cây xoài và nói: Chị Khương ơi! Tôi xin chị đấy, chị làm thế này thì xếp Hợi về chửi tôi chết mất, cả cơ quan đâu có ai dám đụng tới cây xoài này. Chị đi vào đi, đừng lấy nữa!
Chị Khương nói: Tôi ở tù lâu ngày, thấy trái cây thì thèm nên muốn ăn, có đây mà không ăn thì dại, các cô ở ngoài muốn ăn gì chẳng có, việc gì phải thèm như chúng tôi. Trái cây trồng để ăn chứ có phải làm cảnh đâu mà giữ.
Chị Khương bóc xoài ăn và gọi tôi: Mục sư có ăn không?
Tôi lắc đầu. Nữ công an đẩy chị Khương vào phòng và đóng cửa lại. Họ đưa tôi vào một căn phòng nhỏ, cho một công an tới ngồi canh cửa. Tôi bảo cậu gác cửa rằng: Chú nằm nghỉ đi cho khỏe, anh nằm ngã lưng ngủ một giấc đã. Tôi bật quạt điện và lên giường năm ngủ một giấc dài. (Đã lâu không được năm giường và bật quạt điện nên tôi ngủ rất ngon). Khoảng 14h chiều họ đánh thức tôi dậy để làm việc tiếp. Chiều hôm đó tôi không có gì để khai báo thêm, vì những thứ đồ mà họ thu giữ của tôi không có thêm thông tin gì để họ khai thác.
Không biết họ thẩm vấn chị Khương những gì, nhưng khoảng 15h30’ họ đưa chúng tôi về trại giam. Chị Khương còn cầm theo về trại hai quả xoài lớn, chỉ bảo tôi mục sư có ăn thì cầm một quả mà ăn. Tôi không lấy, chị cầm vào cổng trại, các cán bộ kiểm tra người, nhưng họ không thu hai quả xoài của chị (nếu là bị can khác thì họ đã thu). Chị cầm hai quả xoài vừa đi vừa hát bài hát “Này lũ cướp nước , người giải phóng cho ai…”
Trực trại đưa chị về nhà giam B4a ( nhà giam nhốt các bị can nữ). Tôi trở về nhà A1a. Nhìn bầu trời trong xanh không một gợn mây, hai bên lối đi, những chồi non trên những cành cây trơ trụi hôm đầu tôi vào trại, bây giờ đã trở thành những tán lá che mát lối đi. Lòng tôi miên man nghĩ tới gia đình, Hội thánh và bạn bè; nhớ nhất là đứa con 2 tuổi của tôi, cháu tên Nguyễn Trung Khải Hoàn. Không biết bây giờ con tôi đã gọi bố thạo chưa? Tôi thầm nghĩ tới ngày đất nước có tự do, nghĩ tới Khải Hoàn của tôi sẽ nhờ sự hy sinh của tôi và những người đi trước hôm nay mà được hưởng một cuộc đời tươi sáng. Tôi thấy vui và tự hào về những gì mình đã, đang và tiếp tục làm cho tương lai đất nước, trong đó có gia đình tôi.
Thanh Hóa ngày 11/07/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 12 Chuyển buồng
Vào khoảng nửa đầu tháng 4/2011, Võ Văn Quang bị đưa về huyện Tân kỳ để xét xử và chuyển đi nơi khác để thi hành án. Quản giáo Thành đưa một người khác từ buồng 4 sang buồng 9 để làm buồng trưởng. Người này tên là Nguyễn Văn Ý, quê ở Đô Lương. Trước đây cậu là cầu thủ của đội tuyển U17 bóng đá Sông Lam Nghệ An. Từ khi còn học lớp 4 cậu và người anh trai đã lọt vào mắt của các chuyên gia bóng đá của Nghệ An, vì vậy được gia đình  cho chuyển về thành phố Vinh để vừa học văn hóa vừa được đào tạo để trở thành cầu thủ của đội bóng xứ Nghệ.
Nhưng khi sự nghiệp bóng đá bắt đầu đưa tên tuổi của anh em cậu đến với công chúng cũng là lúc cả hai anh em đều bị sa thải vì có sử dụng ma túy. (*) Buồn chán vì sự nghiệp dang dở lại xấu hổ với bạn bè và gia đình nên Nguyễn Văn Ý đã không trở về với gia đình mà đi lang thang khắp nơi, rồi sau đó tham gia vào một đường dây chuyên trộm cắp xe máy. Cậu bj bắt đi tù, ra tù không được bao lâu, Ý cưới vợ. Vợ Ý quê ở huyện Yên Thành, cô ấy rất yêu thương Ý và cố gắng nổ lực giúp chồng cai nghiện. Vợ Ý đã đưa Ý về nhà bố mẹ vợ để tạm trú; tách cậu ấy ra khỏi đám bạn bè xấu để cai nghiện và làm lại cuộc đời. Nhưng tại quê vợ Ý vẫn không thể nào thoát ra khỏi những cơn nghiện cứ thúc ép tâm trí của cậu. Để có tiền cho việc thỏa mãn thèm khát của mình, Ý đã ra đường chặn xe khách trên tuyến đường đi từ Đô Lương ra Hà Nội, ngang qua huyện Yên Thành để “xin tiền”. Ý đã làm vậy nhiều lần, vì trước đây có thời Ý làm “cò” bến ở bến xe Đô Lương các nhà xe tuyến Đô Lương – Hà Nội đều biết Ý, vậy nên  khi Ý vẫy xe xin tiền thì họ đều dừng lại đưa cho Ý mấy trăm.
Vào một hôm gần Tết Nguyên đán Ý bị công an Yên Thành phục sẵn trên một chiếc xe khách, đợi Ý nhảy lên xe xin tiền, chủ xe vừa đưa cho Ý 500.000 đồng, thì bị công an bắt quả tang. Vậy là Ý lại phải ngồi nhà giam từ đó, qua tết Ý bị đưa xuống trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An và giam ở buồng 4 nhà A1a. Ý được chuyển lại buồng 9 sống chung với tôi cùng Nguyễn Trường Giang và Nguyễn Văn Thành. Ý là người theo đạo Công giáo, nên cậu vẫn thường hay đọc kinh ngày 2 lần, sáng và tối. Gặp tôi là người Tin Lành cũng thường cầu nguyện ngày 2 lần sáng tối và tạ ơn Chúa mỗi bữa ăn. Thấy tôi có cùng niềm tin vào Chúa Giê Xu nên Ý rất quý tôi, hàng ngày Ý hay nói chuyện với tôi về niềm tin tín ngưỡng và những bất lực của loài người. Ý cho rằng cậu đã quá tự tin vào tiềm năng bóng đá của mình, cậu đã sa đà vào nghiện ngập vì muốn trải nghiệm cảm giác thăng hoa… cho nên cuộc đời cậu đã rẽ vào tăm tối! Đối với cậu; tia hy vọng cuối cùng của cậu là đặt tất cả vào Thiên Chúa. Tôi cũng khuyên cậu hãy bám lấy Chúa mà cầu nguyện để Ngài kéo Ý ra khỏi “màn đêm tăm tối”. Ý không phải là buồng trưởng khó tính, nhưng cậu cũng hay bầy trò để trêu ghẹo Thành vì cậu Thành có giọng nói như con gái nên Ý hay bảo Thành đóng giả người mẫu. Bằng cách lấy dậy buộc vào dương vật của Thành, lôi quật ra phía sau rồi cột lên cổ và bảo Thành biểu diễn như những thí sinh đi thi người mẫu.Thành cũng thích chơi trò đó nên họ thường làm vậy để mua vui. Chúng tôi đang sống ổn định trong buồng 9 như vậy thì vào trung tuần tháng 5, lúc gần đóng cửa buồng giam buổi chiều tối, quản giáo gọi tôi và Nguyễn Trường Giang gấp hành lý để chuyển buồng.
Tôi và Giang khẩn trương gấp quần áo, khăn mặt và sẵn sàng để chuyển đi nơi ở mới. Quản giáo mở cửa và bảo Giang ra trước rồi chuyển cậu sang buồng 10 (buồng Si bi ri), quản giáo nói sẽ chuyển tôi sang buồng 8. Biết tôi sang buồng 8 nên Ý vội vàng nhét vào bao quần tôi mấy vê thuốc lào và một viên đá lửa đã bật gần hết và nói: Anh cầm sang đó cho thằng Sơn đen Đô lương, sang đó nói là em gửi cho nó nhé! Ý hẹn tôi khi nào tới Đô lương nhớ ghé vào nhà cậu ấy chơi.
Tôi ôm tư trang và đi theo quản giáo Thành. Cửa buồng 8 mở ra, tôi bước vào, chào mọi người, dù bây giờ tôi mới bước chân vào buồng 8, nhưng mọi người ai cũng đã biết tôi, vì tôi ở nhà A1a này đã lâu và mỗi khi đi cung tôi thường đi qua buồng 8. Khi đi cung trở về, kiểu gì tôi cũng xin điều tra viên mấy điếu thuốc lá, đi qua buồng 7 và buồng 8 là ném cho họ, nên họ rất quý tôi. Cánh cửa buồng 8 đóng lại, buồng giam tối đen như mực, từ khi bị giam ở nhà giam này, tôi ở trong buồng 9 là buồng có bóng điện sáng thâu đêm, nên khi sang buông 8 không có điện tôi thấy rất khó chịu.
Khi trời tối hẳn, bóng điện ngoài hành lang bật lên, qua ô thoáng trên cửa sắt, có một tia sáng hắt vào chiếu lên tường buồng giam, là luồng ánh sáng duy nhất mà chúng tôi được thừa hưởng từ nguồn điện sáng của trại giam. Tôi hỏi ở đây ai là Sơn đen? Mọi người chỉ vào một người cao to nhưng da đen như củ chuối và nói: Đây! Sơn đen đây! Tôi đưa cho Sơn gói thuốc lào mà Ý gửi cho cậu và nói: Ý nó gửi cho em đấy. Cả buồng reo mừng vì lại có thêm thuốc lào để hút. Anh Hùng buồng trưởng hỏi tôi: Mày có “Sỏi” Không (tức có đá lửa không?) Tôi nói có một chút đây. Anh Hùng bảo: Phú trèo lên Cẩu (ô thoáng phía sau buồng giam) lấy công nông xuống đây! Phú đứng lên vai của Sơn hai người kiệu nhau và phú móc trong ô thoáng ra một cục dẻ rách trong đó có một cái bật lửa ga nhưng không còn ga và đá ( Trong tù họ gọi bật lửa còn ga là xe, còn bật lửa hết ga mà bật bằng bông là Công nông, buồng nào không có Công nông mà phải cắm đá lửa vào bàn chải đánh răng để mai vào xi măng lấy lửa thì họ gọi là Máy ủi). Khi lấy “Công nông” xuống anh Hùng bảo tôi: Tôn đưa sỏi cho thằng Phú sáng mắt nó cài vào. Phú hí hoáy tháo bánh xe bật lửa ra, kéo lò xo cho thật căng rôi bỏ đá vào. Họ bắt đâu chuẩn bị  “đèn”, một người cầm “đóm”  (một mẫu giấy vệ sinh xoán lại được tẩm bằng dầu ăn trong gói mì tôm) Một ngưới cấm “Xăng” (Một chút bông vải lấy ra từ trong chăn hoặc gối, xé thật tơi) để bật lửa. Người bật lửa một tay cầm bật lửa, một tay cầm cục bông đã tơi ghe sát vào tia lửa, bật  mạnh để tia lửa phát ra thật nhiều, gặp bông tới vậy là bắt cháy, nhưng người cầm “đóm cũng phải nhanh tay, thấy bông cháy là lập tức phải châm ngay, nếu không hêt bông lửa sẽ tắt. đâu của “đóm” phải xòe ra cho dễ châm, nhưng thân đóm phải xoắn chặt để cháy được lâu, tẩm thêm dầu ăn thì cháy mới tốt. khi châm được lửa rồi thì đưa ngay sang “đèn”. Đèn mà chúng tôi sử dụng là một chiếc nắp nhựa của chai nước mắn được đổ dầu ăn vào, dùng vỏ hộp kem đánh răng hoặc hộp sữa tươi, gấp lại, lật phía có thiếc ra ngoài, tạo thành một chiếc “ cầu” bắc ngang qua nắp chai, dùng răng cắn thủng một lỗ nhỏ, xâu chút bông vào làm bấc. vậy là đã thiết kế xong chiếc “đèn”. Nhưng bắc cầu như vậy khỉ thắp được một lúc, cầu nóng lên nó làm cho nắp nhựa bị nóng theo làm hỏng đèn. Vì vậy chúng tôi lại phải “thiết kế chiếc cầu đèn hình chóp nón rồi bỏ hẳn vào phía trong của nắp nhựa, dù có nóng thì nắp chai cũng không đến nỗi chảy méo ra. Khi lửa đã lên đèn, buồng có chút ánh sáng, họ bắt đầu vê thuốc lào hút, hút xong lại phải lấy cái ông giấy của cuộn giấy vệ sinh để chụp cái đèn lại cho đỡ bị cán bộ phát hiện mình dùng đèn.
Anh Hùng buồng trưởng bắt đầu “nồi”  và nhiên liệu nấu nước sôi, vẫn bằng vỏ chai nhựa làm nồi, túi ni lông làm nhiên liệu, nước sôi xong pha trà nhấm nháp tâm sự chuyện cho nhanh hết thời gian. Buồng giam số 8 rộng hơn nhiều so với buồng 9 từ cửa đi vào, phía bên tay phải là một bục nằm lớn chiều rộng bục nằm khoảng 2 m, chiều dài khoảng 4 m, có thể nằm được 6 người, phía trong bục nằm là hố vệ sinh, phía tay trái là Xa lộ rộng khoảng 0,8m, bên trong Xa lộ là bể nước, đựng được khoảng hơn 1 m khối.  Hôm tôi vào buồng thì buồng chỉ có 5 người.
Sau khi nước nôi xong, bắt đầu sơ qua cho mọi người biết về những hoạt động của tôi ngoài xã hội. mọi người cũng tâm sự với tôi về những câu chuyện của họ. Đan xen trong nhưng câu chuyện, anh Nguyễn Sỹ Hùng có dặn tôi: Chú mày vào ở nhà này khá lâu rồi nên anh không phải nói nhiều, nhưng sang buồng này chú nhìn anh em mà sống. Làm sao để không bị cán bộ soi, nếu chú làm gì để cán bộ soi mà buồng bị cắt thuốc lào là chú đừng trách anh. Khi gặp gia đình nhớ gửi cho cán bộ 500.000 đồng. đây là “quy định”  dành cho tất cả những ai vào buồng này. Tôi nói với anh Hùng: Anh yên tâm về vấn đề giữ kỷ luật nhà giam, còn vấn đề quà gửi cho cán bộ thì chắc em không làm được. Mà có thể cán bộ cũng sẽ không nhận quà do gia đình em gửi cho ông ấy đâu, hơn nữa gia đình em cũng chẳng bao giờ làm vậy. Anh Hùng nói, mày làm sao thì làm, đừng để ảnh hưởng tới anh em. Nghe cách nói của anh Hùng tôi bắt đầu thấy “không khí ngột ngát” bao trùm buồng giam, (mặc dù buồng giam này rộng hơn buồng 9). Tôi suy nghĩ về những ngày tiếp theo xem mình nên làm gì và phải ứng phó ra sao với tay buồng trưởng này đây. Tôi biết anh Hùng là một người tù đã lâu với bản án trung thân với tội giết người, do anh đã trốn trại, năm 2011 anh bị bắt trở lại. đối với một người đã ở tù gần 20 năm mà lại là tù hình sự giết người, chắc anh ta rất có nhiều chiêu trò trong cách đối xử với anh em tù khác.
Đèn dầu cũng chỉ sáng được khoảng chừng 30 phút là tắt vì không còn dầu. Buồng giam lại tối đen như mực mọi người mắc màn đi ngủ.
Tôi ngồi cầu nguyện nho nhỏ để mọi người không nghe thấy. Tôi cầu xin Chúa hướng dẫn tôi để tôi phải sống trong môi trường mới này sao cho phù hợp với mình với người. Tôi rất yên tâm khi nhớ lại lời Chúa đã hứa “ Nầy Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu ta sẽ theo gìn giữ đó và đem người về xứ nầy; vì Ta không bao giời bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều Ta đã hứa cùng ngươi” được chép trong Thánh kinh Sáng Thế ký đoạn 28 câu 15. Tôi biết rằng Chúa không hề lìa bỏ tôi, Ngài là Đấng chăn dắt tôi.
(Còn nữa!)

Thanh Hóa ngày 17/07/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 13 Không phải là chuyện nhỏ

Đêm đầu tiên ở buồng 8 đã trôi qua, chúng tôi lại đón chào một ngày mới. Sau khi mở cửa là tới giờ buồng trưởng buồng vệ sinh đi chia mì tôm (Mì tôm của các bị cáo, nhưng cán bộ quản lý, mỗi buổi sáng họ chỉ cho nhận 1 người 1 gói). Khi tới lượt buồng 8, chúng tôi nhận 5 người 5 gói. Cậu Ngọc Anh là vệ sinh trưởng yêu cầu chúng tôi bóc mì ra bát xong thì phải nộp vỏ và gói dầu trong mỳ ra cho cậu ta. Tôi thắc mắc tại sao lại phải nộp gói dầu cho cậu ta nên hỏi: Tại sao chú lại thu gói dầu của các anh? Ngọc Anh nới: Anh hỏi cán bộ ấy. Em chỉ làm theo lời cán bộ thôi, cán bộ nói là các anh lấy dầu để thắp đèn nên không cho các anh lấy. Tôi bảo vậy em lại gọi cán bộ Thành lại cho anh gặp. Ngọc Anh lại chỗ quản giáo Thành ngồi và nói gì đó, tôi nghe không rõ nhưng chỉ nghe Ngọc Anh lại nói với tôi rằng cán bộ không lại, em đã bảo rằng anh thắc mắc và muốn gắp nhưng ông ấy bảo là mặc kệ nó.
Chúng tôi nhận nước nóng pha mỳ tôm ăn xong, cậu Thái Bá Châu người Tân Kỳ đi rửa bát. Tôi đứng ra cửa buồng giam và gọi: Cán bộ Thành ơi, xin cho tôi gặp ông một chút. Quản giáo Thành đi lại và hỏi: Có việc gì đấy? Tôi nói: Việc đầu tiên là tôi không đồng ý với thái độ của cán bộ về việc làm ngơ không chịu lắng nghe ý kiến tôi muốn đề đạt. Thứ hai tôi muốn hỏi cán bộ, lý do gì ông sao các bị cáo của buồng vệ sinh đi thu hết dầu ăn trong gói mì của chúng tôi? Quản giáo Thành trả lời: Khi nãy anh muốn gặp nhưng tôi đang bận nên chưa gặp anh được. Việc vỏ bao mì tôm gói dầu ăn tôi cho thu ra là bởi vì các anh để vỏ mỳ để đun nấu trong buồng, gói dầu thì các anh không nên ăn, vì kém chất lượng, nước pha mỳ lại không lại không được nóng, nên các anh ăn vào sẽ đau bụng. Tôi nói lại: Báo cáo cán bộ, nếu là vì lý do mì tôm kém chất lượng và nước sôi không đảm bảo thì tôi đề nghị cán bộ có đề đạt với căn tin, nên thay loại mỳ đảm bảo chất lượng, nếu nước sôi không đảm bảo, mong ông có ý kiến với đội nhà bếp để họ đun sôi kỹ nước và đưa nước kịp thời khi còn nóng cho các bị can sử dụng. Chúng tôi ở tù, ăn uống đã rất thiếu thốn, nay có chút dầu ăn trong gói mỳ cũng bị thu đi không cho ăn thì còn gì để nói nữa? Chúng tôi đã phải mua mì tôm của căn tin giá đắt rồi mà lại phải ăn mì kém chất lượng rồi lại bị thu cả dầu nữa là không được. Tôi đề nghị cán bộ cho tôi gặp Ban giám thị để trình bày. Quản giáo Thành nghe xong, mặt đỏ bừng bừng bỏ đi, vừa đi ông vừa quát: Ngọc Anh đâu rồi? Kiểm tra sổ sách xem thằng Tôn còn bao nhiêu mì tôm đưa hết vào buồng cho nó. Ngọc Anh chạy ra lấy sổ kiểm tra lại, rồi báo cáo với quản giáo là tôi đã hết sạch mỳ trong kho. Cán bộ Thành nói lớn, không có mỳ nữa mà còn to miệng. Từ này trở đi các anh đi phát mỳ tôm nhớ mang theo kéo, các buồng để bát ra ngoài, các anh cắt mỳ, đổ ruột vào bát cho họ, ai ăn dầu thì cắt luôn đổ vào, không cho bất cứ ai đưa vỏ và dầu vào buồng. Trong lúc quản giáo đang bực bội với tôi thì trực trại Lê Tuấn Anh lại đưa lệnh vào trích xuất tôi ra ngoài. Quản giáo Thành không thèm lại mở cửa buồng giam, mà đưa chìa khóa cho Ngọc Anh lại mở. Ngọc Anh vừa mở cửa vừa nói nhỏ: Cán bộ đang rất bực, buồng này coi chừng kiểu gì hôm nay cũng bị cắt thuốc lào. Tôi bước ra khỏi buồng giam, đi theo trực trại ra cổng.
Tới cổng trại thấy điều tra viên Phan Đình Huy tươi cười chào hỏi tôi thân thiện: Chào anh Tôn, anh khỏe chứ, chúng tôi có tin vui cho anh đây, lát nữa anh sẽ biết, làm xong thủ tục giao nhận bị can, Huy còng tay tôi vào xe máy và chở đi. Vào tới Cơ quan an ninh điều tra, Huy mở còng và dẫn tôi vào phòng khách rôi nói: Anh ngồi đây đợi tôi. (Có một chiến sĩ đứng canh tôi), Khoảng 10 phút sau tôi không tin nỗi chính mình. Trước mặt tôi là vợ và 3 con của tôi. Đã hơn bốn tháng nay tôi mới được gặp lại, các con chạy lại ôm tôi, Thanh Thủy còn hát cho tôi nghe mấy bài thánh ca của thiếu nhi và đọc cho tôi nghe Thi thiên 23 trong kinh thánh mà cháu đã học thuộc long. Vợ và con tôi thông báo cho tôi biết về tình hình Hội thánh. Vợ tôi cũng cho biết rằng ngay sau khi tôi bị bắt được một tuần, chị gái tôi cùng vợ tôi có vào công an huyện Nam Đàn để đề nghị được gặp tôi nhưng công an không cho. Sau tết ít hôm vợ tôi và một người hàng xóm cũng vào thăm nhưng không được. Từ đó vợ tôi không vào được vì bố tôi năm đó đã 85 tuổi, già yếu lại sốc vì nghe tin tôi bị bắt nên phát bệnh phải nhập viện dài ngày. Vợ tôi đã phải gửi tiền nhờ điều tra viên Văn Bá Thu hàng tháng gửi cho tôi 500.000 để có cái sinh hoạt. Lần này vào vợ tôi cầm 1.000.000 đồng đưa cho tôi và bảo: Anh cầm vào đó ăn gì thì mua nhé, trông anh xanh và người lở loét như vậy chắc sống trong đó vất lắm hả? Tôi cười và nói để động viên cho vợ và các con yên tâm: Em và các yên tâm đi, anh không vất vả đâu. Không có ai đánh đập anh cả, chẳng phải lao động gì, ăn uống cũng tạm được, đừng lo cho anh lắm. Em cố gắp chăm sóc bố mẹ và các con cho tốt, nếu có thể thì chăm lo Hội thánh giúp anh, cứ nói với mọi người rằng anh không có tội. Anh sẽ về sớm thôi. Tôi dặn dò các con cố gắng học hành ngoan ngoãn cho mẹ vui và hãy tự hào về bố nhé. Bố đang hi sinh cho các con có cuộc đời tươi đẹp hơn. Cậu con trai lớn tỏ ra lo lắng cho tôi, khi thấy người tôi có nhiều vết xước trầy trớt trên da. Trọng Nghĩa hỏi tôi: Sao người bố xây xước nhiều vậy? Bố bị họ đánh sao? Tôi khẳng định lại lần nữa: Bố không bị đánh đập gì cả, các bạn tù cũng quý bố. Những vết xước này là do trời nắng nóng quá rôm sẩy mọc nhiều, bố gãi ngứa khiến da bị xước ra sau đó tắm bằng nước giếng khoan mà nước ở đây là nước mặn nên nó vậy. Vừa nói chuyện tôi vừa rút 100.000 đồng ra khỏi nắm tiền vợ vừa đưa cho mình, cẩn thận cất dấu rồi trả lại cho vợ: Em cầm lấy tiền, vào gửi lưu ký cho anh, trong tù anh không được dùng tiền nên tiên phải gửi qua lưu ký. Hay em nhờ anh Thu và chú Huy đây cầm rồi khi khác vào gửi cho anh. Vợ tôi nhận lại tiền và gửi điều tra viên tên Phan Đình Huy đang ngồi giám sát cuốc trò chuyện của gia đình tôi. Khi đếm lại tiền, thấy thiếu 100.000đ, vợ tôi thắc mắc không hiểu sao lại thiếu tiền. Tôi ra hiệu cho vợ là mình đã lấy, nhưng vợ tôi không hiểu nên lại hỏi lớn: Anh lấy 100.000đ rồi hả? Tôi nháy mắt ra hiệu nhưng miệng thì nói: Anh lấy làm gì? Vào đó có dùng được đâu mà lấy. Tôi mong vợ tôi hiều ý mình, nhưng vợ chẳng để ý, cô tiếc 100.000 nên cứ loay hoay tìm kiếm. Thấy thương vợ nhưng không biết phải làm sao tôi đành im lặng. Con trai tôi nói với điều tra Huy để xin chụp một tấm hình của tôi nhưng điều tra không đồng ý. Chia tay tôi, vợ và các con gạt nước mắt quay về còn tôi lại trở về nhà giam.
Về tới buồng giam, thấy không khí vốn đã ngột ngạt lại càng thêm ngột ngạt. Tôi không nói cho ai biết là mình vừa đi gặp người thân về, nên quản giáo và các bị can trong buồng chỉ cho rằng tôi vừa bị đưa đi cung về. Cửa buồng giam đóng lại. Anh Nguyễn Sỹ Hùng buồng trưởng bắt đầu nguyền rủa chỉ trích tôi gay gắt. Anh nói tôi phải tự biết mình là ai và đang ở đâu chứ. Anh nói rằng: Mày ở ngoài đấu tranh thế nào tao không biết, nhưng đã vào đây thì phải biết thân biết phận chứ, chỉ có gói dầu ăn thôi mà mày làm lớn chuyện để cán bộ soi cả buồng. Vì mày mà hôm nay buồng này bị cắt thuốc lào rồi. Hôm nay cán bộ gọi tao ra chửi một trận, ông ấy bảo rằng tao không biết dạy mày, để mày chống đối cán bộ. Nếu mày còn như vậy nữa đừng trách bảo sao anh không nói. Đấu tranh cái gì chúng mày! Chúng mày chỉ là bọn phản động chống đối chính quyền, vào đây rồi mà còn giữ thái độ đó thì chỉ có khổ thân thôi. Thấy không khí buồng giam căng thẳng nên tôi không tranh cãi lại ạnh Hùng làm gì, mà chỉ nói qua để anh biết: Mặc dù gói dầu ăn chỉ là chuyện nhỏ, nhưng đối với em thì dù lớn dù nhỏ cũng là quyền lợi của chúng ta, không ai có quyền cắt xén với bất cứ lý do gì. Cán bộ cắt thuốc lào buồng giam này không cho các anh em thuốc lào nữa thì thôi chứ có sao, nếu vài ba ngày không có thì chừa luôn đi cho khỏe. Thấy tôi nói vậy, anh Hùng lại căng thẳng nói: Mày mà không tìm cách để anh em buồng này có thuốc lào hút thì phải liệu đó. Sáng ngày hôm sau tôi lấy tờ 100.000 đồng mà tôi đã cất dấu đưa cho Sơn đen và nói: Tình hình này có vẻ căng thẳng đây! Anh có 100.000đ chú cầm có thể “đi chợ” với ai đó cho anh em mua được gì thì mua. Sơn nói: Anh đưa đây em, nếu hôm nay ông Thông quản giáo nhà A1b mà xuống đây em sẽ đưa cho ông ấy để mua thuốc lào. Tôi đưa cho cho Sơn tờ tiền mà tôi định để dành nhờ người mua giúp mấy cái dao cạo, nhưng thấy anh em có vẻ oán trách mình nên để họ mua thuốc lào họ hút cho xong. Không ngờ hôm đó quản giáo Thành nghỉ trực nên có người khác trực thay. Quản giáo nhà A1b là Nguyễn Trung Thông cũng nghỉ (quản giáo Thông vẫn thường hay bán trộm thuốc lào cho các bị can nhà A1a). Vậy nên Sơn không mua được thuốc lào. Buổi trưa, vào lúc đóng cửa buồng, Anh Hùng gọi riêng cán bộ trực thay lại và đưa tờ tiền nhờ người này mua thuốc nhưng cán bộ này không nhận.
Không biết có phải do quản giáo Thành bật đèn xanh không nhưng ngày hôm đó buồng chúng tôi không được bơm nước. Tôi hỏi cậu Ngọc Anh sao không bơm nước cho phòng chúng tôi, thì cậu trả lời là máy bơm hỏng. Trời nắng nóng nước tắm không có, nước sinh hoạt cũng không, buồng giam bốc mùi hôi thối. Ăm cơm trưa xong cũng không có nước rửa bát. Bữa chiều khi chia rau cho chúng tôi, cậu vệ sinh trưởng mang rau tới, tôi nói với cậu ta rằng buồng chúng tôi không có nước rửa bát, nên bây giờ không có chậu để đựng rau, đề nghị cậu báo cán bộ mở của buồng cho chúng tôi đi xách nước về sinh hoạt. Cậu ta không biết đã nói với cán bộ chưa nhưng chẳng thấy cán bộ động tĩnh gì. Thấy tình hình càng ngày càng căng thẳng, bởi các bị can trong buồng đều đổ hết lỗi lên đầu tôi, họ tin rằng chỉ vì tôi đã phản đối quản giáo chuyện dầu mỳ tôm hôm trước nên khiến họ phải chịu khổ theo. Chúng tôi không có đồ để đựng rau, nên cậu vệ sinh trưởng lại nói: Buồng 8 có lấy rau không? Nếu không lấy là tôi đổ đi để lấy thùng này. Tôi nói: Chúng tôi có lấy nhưng không có cái đựng, để nghị các cậu bơm nước cho chúng tôi rửa chậu và bát thìa mới có cái để dùng buổi tối. Cậu Ngọc Anh văng tục chửi tôi và giơ nắm tay đấm tôi qua song sắt, nhưng không trúng. Tôi bực mình gọi quản giáo trực thay lại báo cáo sự việc. Cán bộ này còn trẻ, tên là Trung. Đi lại buồng 8 hỏi có chuyện gì đấy? Tôi đã trình bày lại chuyện buồng chúng tôi bị cắt nước, tôi thắc mắc lại bị cậu Ngọc Anh vệ sinh trưởng dọa đánh. Thay vì giải quyết chuyện nước nôi cho chúng tôi thì quản giáo Trung lại quát nói: Tờ tiền đâu đưa ra đây! Các anh đã vi phạm nội quy, lưu trữ tiền mặt. Quản giáo chỉ vào mặt anh Hùng và nói: Thằng buồng trưởng đưa tờ tiền ra đây. Anh Hùng chỉ vào Sơn đen, Sơn đen run run vào lận cạp quần lấy tờ 100.000đ đưa cho quản giáo. Quản giáo Trung mở cửa buồng đưa Sơn ra ngoài lấy lời khai và lập biên bản vi phạm. Sơn khai là tiền của tôi gửi, nên cậu ấy được cho vào. Quản giáo lại buồng chỉ vào mặt tôi quát: Mày đã vi phạm nội quy trai giam mà con to miệng, tao sẽ báo việc này với Ban giam thị.
Vậy là một ngày trôi qua nữa không khí hết sức nặng nề, lại thêm buồng giam không có nước để làm vệ sinh nên nồng nặc mùi nước tiểu, mùi hơi người khiên càng thêm ngột ngạt. Anh Hùng bực tôi lắm nhưng không dám đánh tôi mà chỉ dùng những lời nguyền rủa và trách móc. Sang ngày mai, quản giáo Thành đi làm trở lại. Quản giáo gọi tôi ra và hỏi: Anh lấy đâu ra tiền mặt mà tàng trữ vậy? Tôi trả lời: Nhưng cán bộ cũng đã biết! Tôi bị giam đã hơn bốn tháng nay, chưa gặp gia đình (Việc tôi gặp gia đình năm bên ngoài trại giam nên quản giáo và trại giam không biết), hơn nữa khi vào đây tôi đã bị kiểm tra rất kỹ rồi, thì làm sao có tiền được. Quản giáo hỏi tiếp: Vậy 100.000đ hôm qua anh lấy đâu ra. Tôi trả lời: Sáng nay tôi nhặt được trước của buồng giam, tôi không biết của ai, nên đưa cho anh Hùng buồng trưởng cầm để nộp cán bộ, nhưng khi gọi cán bộ Trung để nộp thì cán bộ lại không nhận, chiều qua lấy cớ tôi thắc mắc chuyện nước nôi nên cán bộ Trung làm lớn chuyện lên. Quản giáo Thành hạ giọng nói: Anh nói vậy thì tôi biết vậy, nhưng tôi tin rằng chẳng có ai đánh rơi tiền trước buồng giam cho anh nhặt! Thôi chuyện đó tôi cho qua, nhưng tôi nói để anh biết, tôi không muốn làm khó dễ gì anh đâu. Anh phải hiểu rằng từ khi anh vào đây tới giờ tôi đối xử với anh ra sao chứ. Trong thời gian mới vào sự việc còn phải theo dõi nên ban giám thị chỉ đạo phải giam anh trong buồng 9 có camera theo dõi. Thấy anh sống có kỷ luật tốt, tôi cũng quan tâm tới anh, nên mùa này nắng nóng tôi đã đề nghị ban giám thị cho anh sang buồng 8 rộng và thoáng hơn. Anh không hiểu cho tôi mà còn gây ra căng thẳng. Tôi trả lời, Tôi cám ơn cán bộ đã suy nghĩ tốt cho tôi, nhưng tôi không hiểu sao ông lại thu dầu ăn của chúng tôi? Quản giáo nói: Lâu nay anh ở buồng 9 có điện sáng nên không biết, các buồng khác họ hay lấy dầu ăn trong gói mỳ để thắp đèn, các cán bộ trực đêm phản ánh lại nên tôi phải thu ra, tránh các anh vi phạm làm anh hưởng tới tôi. Nếu các anh ăn thì ai cấm làm gì, nhưng tại các anh không ăn mà để đốt đèn. Tôi nói vậy thì cán bộ nhắc nhở để mọi người biết chứ, nếu họ tái phạm thì hãy thu ra chứ. Đằng này quản giáo làm vậy tôi thấy hơi quá đáng. Quản giáo nói: Nhà giam này đâu phải chỉ có mình anh, phạm nhân nhiều người nhiều kiểu khác nhau, tôi đã 30 năm trong nghề nên tôi biết. Anh không hiểu cho tôi mà lại làm lớn chuyện. Tôi thấy cán bộ Thành nói thật lòng và dường như ông cũng hiểu được gì đó về tôi nên cũng đang tìm cách để tình hình bớt căng thẳng. Tôi nói: Tôi thành thật xin lỗi cán bộ về chuyện gói dầu ăn hôm qua, nếu tôi làm cán bộ buồn, mong ông bỏ qua, nhưng hy vọng ông xem xét lại lời đề nghị của tôi, đừng để mấy cậu vệ sinh tự ý cắt nước hay làm gì gây khó cho buồng giam chúng tôi, nếu tình trạng này kéo dài thì ông biết rằng tôi không thể ngồi im. Quản giáo Thành nói thôi anh về buồng đi, lần sau rút kinh nghiệm có gì cứ ra ngoài gặp tôi trao đổi, đừng làm lớn chuyện trước mắt các bị can khác. Sau buổi nói chuyện ngắn với quản giáo Nguyễn Văn Thành, tôi thấy quản giáo đã có cái nhìn tốt về tôi và thực ra ông cũng không muốn căng thẳng với tôi, nhưng buộc ông phải làm vậy để lấy uy mà trị những tù phạm khác.
Tôi trở về buồng giam, vòi nước bơm đang chảy vào bể, mọi sinh hoạt trong buồng trở lại bình thường. Gói dầu ăn của buồng chúng tôi từ đó không bị thu ra nữa. Không khí buồng giam số 8 dần vui vẻ trở lại. Tạ ơn Thiên Chúa đã thương xót.
(còn nữa)
Thanh hóa ngày 22/07/2014

Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 14 Buồng trưởng Nguyễn Sỹ Hùng
Tháng ngày cứ chầm chậm trôi qua, vậy là tôi đã làm quen với :căn hộ mới” Với những người bạn tù lần lượt thay nhau, người bị đưa đi xử và chuyển trại, người mới bị bắt lại nhập vào. Anh Hùng buồng trưởng cũng không con căng thẳng với tôi nữa, vì mọi chuyện đã ổn định trở lại.
            Các anh em trong buồng giam bắt đầu quý trọng tôi, khi nghe tôi kể cho họ nghe những câu chuyện trong Kinh thánh, Từ câu chuyện Sáng tạo, chuyện Sa ngã của loài người, rồi chương trình cứu chuộc nhân loại của Thượng đế, tới câu chuyện về cuộc đời vua Đa – Vít tới chuyện Chúa Giê Xu bị khổ hình và sống lại từ kẻ chết. Cứ tối lại là tôi lần lượt kể cho mọi người nghe từ 1 tới 2 câu chuyện. Mặc dù anh Hùng rất ghét nghe những câu chuyện tôi kể, nhưng các anh em khác thì lại thích nghe. Họ chăm chú lắng nghe, có hôm anh Hùng quát tôi và bảo: Thôi! Mày im đi; đừng truyền đạo ở đây. Tao mà báo cán bộ là mày chết đấy. Mấy bj can khác thấy anh Hùng nói vậy họ phản đối lại: Ai truyền đạo đâu mà truyền đạo? Những câu chuyện này nghe hay mà có ý nghĩa cho cuộc sống, ông không nghe thì nút tai lại. Không biết từ bao giờ, anh Hùng tuy mang tiếng là trưởng buồng nhưng chẳng ai trong buồng nể sợ, hầu hết mọi người liên kết lại với nhau, thực hiện quyền dân chủ trong buồng. Anh Hùng không có quyền quyết định gì nữa. Nhưng tính nào tật nấy, thấy mất uy tin với những người củ trong buồng, khi có bị can mới bị bắt đưa vào buồng là anh Hùng ra tay uy hiếp để đe dọa làm họ sợ. Tôi nhớ có lần anh Nguyễn Hữu Phương người xã Tiên Kỳ huyện Tân Kỳ mới vào. Anh Hùng làm thủ tục thông tai thông ngực, rồi uy hiếp anh, có hôm lấy nước nóng pha mỳ tôm còn dư, dùng để pha nước chè. Anh Hùng sai anh Phương mang ủ trong chăn. Anh Hùng  vô tình kéo chăn làm đổ nước. Vậy là anh Hùng đổ lỗi cho anh Phương. Buổi trưa vừa đóng cửa buồng, anh Nguyễn Sỹ Hùng buồng trưởng bắt anh Phương ngồi xuống Xa lộ hai tay úp xuống, mông ngồi chận lên, rôi bắt anh Phương tự đập đầu vào bục nằm. Anh Phương buộc lòng phải tự đập nhè nhẹ vào bục. Tôi nói với anh Hùng rằng: Việc nước chè bị đổ không phải do lỗi của anh Phương mà là do anh Hùng kéo chăn đổ, anh Hùng bực lên túm tóc gáy anh Phương đập mạnh đầu anh ấy xuống bục. Miệng nói: Sao mày lại ủ nước vào chỗ tao nằm nên tao mới lôi đổ?. Anh Hùng đập đầu anh Phương liên tục ba lần vào bục, máu chảy lai láng trên mặt mới thôi. Buổi chiều quản giáo Thành mở cửa buồng thấy trán anh Phương có vết thương nên hỏi: Thằng Phương bị sao vậy? Anh Hùng nhanh nhảu trả lời: Dạ tôi hôm qua trời tôi quá nó mới vào buồng chưa quen lối đi nên bị trượt chân ngã, đầu đập vào cạnh bể nước. Quan giảo hỏi anh Phương: Có phải vậy không Phương? Anh Phương trả lời: Vâng ạ! Quan giáo không tin và nói: Trượt gì mà trượt. Thăng Hùng già lát nữa ra gặp ông nhé. Còn thằng Phương từ này ngôi trong buồng, đừng ra ngoài này lỡ có Ban giám Thị hay Viện tới mà thấy thì chết. Một lát sau quản giáo cho người tới mở cửa và gọi anh Hùng ra ngoài gặp, chắc là để nhắc nhở việc đanh anh Phương làm chảy máu trên trán (Ở trong tù, quản giáo có thể bật đèn xanh cho các buồng trưởng thủ tục các bị can mới vào nhưng không được để lại vết tích). Sau lần đó anh Hùng có vẻ đở đánh đập hay uy hiếp anh em hơn. Có lần cậu Lê Văn Dũng người xã Diễn Xuân huyện Diễn Châu vào buồng, sau những thủ tục nhập buồng, anh Hùng thấy Dũng hiền lành hơi khờ khạo nên hay bắt nạt nhưng không đanh vào mặt như đã đánh anh Phương. Anh kiếm cớ gây sự. Dũng mới vào buồng nên phải chịu trách nhiệm rửa bát. Có hôm anh Hùng cầm cả chậu bát lắc vào hô vộ sinh, rồi bắt Dũng quỳ gôi trong đó. Anh Hùng nói rằng Dũng rửa bát không sạch. Vậy là ngoại trừ tôi ra, không một bị can nào vào buồng 8 mà không bị anh Hùng hành hạ. Cậu Sơn đen kể lại, khi mới vào buồng vào lúc trời rét mà anh Hùng bắt cậu Sơn cởi trần, quỳ gối gục đầu vào hố vệ sinh đếm từ 1 tới 1000 rồi lại đếm từ 1000 lùi lại 1. cứ đếm đi đếm lại như vậy cả buổi trưa. Anh Hùng cho một người ngồi canh, nếu thấy Sơn dừng đếm thì lấy nước dội lên đầu. Bới cách đối xử tàn nhẫn của anh Hùng với mọi người nên ai cũng ghét. Có lần cậu Sơn Đen và cậu Phú người Thanh Chương bàn nhau trùm chăn lại đập cho anh Hùng một trận, nhưng tôi can họ ráng bỏ qua, vì họ cũng sắp ra Tòa và chuyển đi nới khác rồi. Lại có lần Cậu Trần Văn Thiện và cậu Nguyễn Văn Phúc người Tân Kỳ. cùng nhau phản kháng lại anh Hùng khi anh Hùng chưởi Thiện mà lôi cả bộ mẹ Thiện ra để chưởi tục. Hai cậu này túm tay túm chân anh Hùng nhưng chưa đánh. Tôi bảo họ dừng lại, phải kiềm chế nếu không lại lôi thôi. Tuy chưa đánh anh Hùng nhưng kể từ đó anh Hùng không dam thể hiện cái uy trưởng buồng. Mọi sinh hoạt mua bán, anh em đều hỏi ý kiến của tôi. Họ xem tôi như một người điều hành sinh hoạt trong buồng. Đối với các bị can trong buồng, anh Hùng là một tay độc ác, đôi với cán bộ thì anh ta lại là một con Thỏ hèn nhát. Anh Hùng nghiện nước chè, nên tối nào cũng lúi húi đun nước để pha trà. Buồng chúng tôi có một cổ bài Tú lơ khơ nên tôi lại chúng tôi thắp đèn để đánh bài quỳ giết thời gian. Dùng dầu ăn trong gói mỳ tôm, và có hôm nhịn ăn miếng thịt khẩu phần ăn bữa trưa, tối lại đốt lấy mỡ để thắp đèn. Một hôm, buồng chúng tôi mua một cái xô nhựa dùng để đựng nước. Tối lại anh Hùng lấy cái quai xô để làm nhiên liệu đun nước. Sáng mai ra, vô tình khi mang xô ra đựng nước uống, bị quản giáo phát hiện xô không có quai, nên hỏi anh Hùng: Thằng Hùng này mày ăn quai xô hay sao mà mới mua hôm qua, mà hôm này đã mất quai rồi? Anh Hùng luống cuống chỉ sang tôi: Ông hỏi thằng Tôn này. Cán bộ hỏi: Quai xô đâu anh Tôn? Tôi trả lời: Chúng tôi cắt ra để mài tăm và móc tai rồi. Quan giáo nói: Vấy còn lại đưa ra đây. Làm tăm thì sao hết cả quai xô được!? Tôi trả lời: Sáng này đã vứt cả vào soạt rác rồi cán bộ ạ. Quản giáo gọi người cầm chìa khóa tới, bất ngờ mở cửa buồng để vào trong kiểm tra. Vào nới, phát hiện hai chai nhựa anh Hùng dùng đun nước còn buộc vào nhau, treo trên bức tường lững trong hố vệ sinh. Quản giáo cầm hai chai nhựa đen xì quắc vào cổ anh Hùng và bắt đi khắp cả dãy nhà giam. Khi đi khắp vòng trở về. Anh Hùng vẫn đeo hai chai nhựa đứng vào hàng. Quản giáo Thành không nói: Thằng Hùng xong rồi, lần lượt tới thằng tiếp theo, cả 6 thằng mỗi thằng đi một vòng. Anh Hùng cầm chai đó đeo vào cổ tôi, nhưng tôi gạt ra và cầm lấy hai cái chai, quấn dây lại ném vào soạt rác và nói: Báo cáo cán bộ; nếu cán bộ xét thấy chúng tôi vi phạm kỷ luật tới đâu thì cứ xử lý theo quy định, còn dùng nhục hình xĩ nhục chúng tôi thế này tôi không chấp nhận. Quản giáo nhìn tôi cười và cho cả buồng vào trong. Vào buồng mấy anh em khác bảo nhau: May mà chúng ta đứng sau anh Tôn, không thì hôm nay phải chịu nhục quá.
Lại nói lại về anh buồng trưởng Nguyễn Sý Hùng: Anh Hùng sinh năm 1958 quê ở Nghi Lộc Nghệ an. Vào khoảng năm 1980  trong thời gian đang làm nghĩa vụ trong quân đội, nhân dịp về phép cưới vợ. Anh Hùng mạng theo về một con Lê đi chơi ở đâu anh cũng mang theo. Một một buổi tối do có mưu thuẩn trong xích mích khi đi xem chiếu phim màn ảnh rộng, anh đã dùng Lê đâm chết một người. Vì vụ đó anh bị đưa ra tòa anh binh tước quân tịc và xử tù với mức án Trung thân. Thi hành án được 10 năm tại trại giam số 3 Tân Kỳ khi anh vừa mới được giảm án từ trung thân xuống 30 năm thì anh trốn trại tù. Chuyến vượt ngục của anh đã thành công, anh vào Đăc Nông thay tên thành Nguyễn Đức Vinh> Anh lấy vợ và lập nghiếp tại Đắc Nông, với giấy tờ giả đó anh đã khoác cho mình chiếc áo đảng viên đảng Cộng sản , một Cựu chiến binh Việt nam. Anh Hùng đã làm tới chức chủ tịch hội cựu chiến binh xã và đang được giới thiệu ra ứng cử chức Chủ tịch ủy ban nhân dân xã. Vào một ngày định mệnh, khi anh đang ngồi họp trong văn phòng của Ủy ban nhân dân xã thì bất ngờ lực lượng công an ập vào đọc lệnh bắt khẩn cấp, họ đưa anh về trại 3 Tân kỳ, nời anh đã từ đó trôn đi. Tại đây họ kỷ luật anh với hình thức cùm chân. Không biết anh bị cùm chân bao lâu, nhưng khi đưa về trại tạm giam thì chân anh đang bị léo sâu tới tân xương, gia đinh phải gửi thuốc kháng sinh vào để anh uống. Khi xem bản kết luận điều của anh tôi mới biết ngoài việc giết người trong nông nỗi thiếu hiểu biết thời thanh niên (như anh đã từng nói), thì sau khi trốn trại “thành công” anh đã có 20 năm để gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi với gia đình, quê hương và đất nước. Vì muốn trốn tránh sự tuy nã của công an mà anh đã nguy tạo giấy tờ giả. Thậm chí con làm cán bộ hội Cựu chiến binh, còn làm chế độ chính sách giả để nhận không tiền huân huy chương của nhà nước. Ai? Ai có thể giúp Nguyễn Sỹ Hùng lột xác thành Nguyễn Đức Vinh? Ai đã bao che cho một tên tù trôn trại? Nếu không có việc đưa con gái của anh Hùng về quê Nghệ an sông với bà nội rồi vào nhập học trong một trường đại học ở Vinh thì chắc có lẽ chẳng ai lần ra Nguyễn Sỹ Hùng đâu cả. Tuy nhiên công sức truy tìm để bắt đước anh Nguyễn Sỹ Hùng là đáng được ghi nhận, nhưng tôi lại thấy thất vọng vô cùng khi mà nghe anh Hùng nói rằng gia đình đã bở ra tới bốn trăm triệu đồng để chạy án cho anh lần này. Đáng lẽ vụ án trốn trại của anh sẽ được thụ lý bởi cơ quan công an huyện Tân kỳ, nơi anh đã trốn trại nhưng do gia đình có quan hệ với Viên kiểm sát tỉnh và Cở quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Nghệ an nên hồ sơ của anh đã được chuyển lên tinhr để lược bỏ những tình tiết quan trọng, Anh nói với chúng tôi rằng: Nếu các Sẹp tại Viên Kiểm sát và Cơ quan CSĐT tỉnh mà không lược bỏ nhnwgx tình tiết quan trọng khỏi vụ án và xử anh với mức án nhẹ thì chính họ cũng sẽ dính líu vào vụ án, Bởi trong hai cơ quan này có người đã âm thầm tiếp sức cho anh lột xác và họ cũng đã nhận của anh khá nhiều tiền từ trước tới nay, nên nay việc “giúp” anh Hùng cũng chính là họ đạng tự cứu mình. Anh Hùng đã không bị truy tố các tội danh như: Lừa đảo, Giả mạo giấy tờ… Hay bất cứ một tôi danh nào mà chỉ bị xử với tội trốn trại, theo anh dự đoán thì anh chỉ bị xử mức an 4 tháng tù giam về hành vi trôn trai. Mà thức ra khung hình phạt của tôi danh này nhẹ nhất là từ 6 tháng tới 3 năm. Chúng tôi không ai tin rằng anh lại chỉ xử nhẹ dưới khung hình phát. Nhưng anh Hùng cứ khăng khăng khẳng định rằng: Tạo nói thật với chúng mày; trong xã hội này chẳng có gì là không thể. Cứ có tiền có quyền là giải quyệt được.
Có lần tôi thẳng thắn nói với anh Hùng: Xã hội này còn tồn tại những người như anh và những kẻ mà anh mua chuộc thì không bao giờ tốt đẹp được. Mà một khi đảng Cộng sản còn cầm quyền thì không thể nào diệt trừ được loại người đang ngày đêm làm hại Đất nước và Nhân dân. Tôi đọc một đoạn Kinh Thánh trong Thi thiên cho mọi người trong buồng nghe.
 “  Phước cho người nào chẳng đi theo mưu kế của kẻ ác, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chổ kẻ nhạo báng. Nhưng vui vẻ về luật pháp của Đức Giê Hô Va ( Đức Chúa Trời) và suy ngẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước. Sinh bông trái đúng mùa đúng tiết, Mọi việc người làm đều được thịnh vượng. Kẻ ác chẳng như vậy đâu. Nhưng chúng khác nào rơm rác gió thổi bay đi. Vì thế, kẻ ác chẳng đứng nỗi trong ngày phán xét, tội nhân cũng không được vào hội người Công chính. Vì Đức Giê Hô Va, biết đường lối người công chính, nhưng đường lối kẻ ác sẽ bị diệt vong”. (Thi 1:1-6)
Thanh hóa ngày 27/07/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 15 Có phải họ đã “gắp lửa bỏ tay người”?
Thật đúng như câu ca mà người xưa truyền lại “ Tháng tám năng nám trái Bưởi”, thời tiết vùng Nghệ An thuộc Miền Trung Việt Nam vào tháng 9, tức tháng 8 âm lịch, rất thất thường, khi nắng khi mưa. Khi nắng thì nắng “cháy da người”, khi mưa thì “Mưa thối đất thối cỏ”.
Vào một buổi chiều cuối tháng 9 buồng chúng tôi đón nhận thêm một thành viên mới. Cậu tên là Lê Văn Dũng, quê ở xã Diễn Xuân, huyện Diễn Châu, Nghệ An, quê hương của cựu Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển. Lê Văn Dũng, sinh năm 1977, kém tôi 6 tuổi. Dũng có nước da ngăm đen, dáng người cao mảnh khảnh, với khuôn mặt khắc khổ của một người nông dân thứ thiệt. Bước vào buồng giam, Dũng khúm núm ôm bọc tư trang đầu cúi xuống chào chúng tôi. Không biết vì lý do gì mà bắt đầu từ khi Dũng bước vào buồng thì vẻ mặt của anh Nguyễn Sỹ Hùng đã thấy gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống cậu ta. Cửa buồng giam đóng hẳn sau 16 h ngày hôm đó. Anh Hùng tiến hành làm “thủ tục nhập buồng” cho Dũng. Sau khi trải qua những thủ tục “Bắt buộc” màu da đen xám nắng của Dũng trở nên xanh dợt vì sợ hãi. Mặt Dũng tái nhợt khúm núm run rẩy vì lo sợ. Dũng được anh Hùng xếp cho nằm ở cuối bục, gần hố vệ sinh. Sáng ngày hôm sau, thấy Dũng có vẻ sợ hãi rụt rè, tôi tìm cách tiếp cận để tâm sự, tạo cho Dũng một không khí thân thiện. Thấy tôi gần gũi trò chuyện tâm tình, Dũng có vẻ an tâm hơn. Kể từ hôm đó tôi đổi chổ nằm lại nằm gần Dũng để có thể an ủi và âm thầm cầu nguyện cho Dũng. Dũng nói với tôi: Anh ơi! Ngực em đau lắm, hình như mấy cái xương ngực gãy hết hay sao ấy? Sau trận đòn nhập buồng em thấy rất khó thở và các xương ngực rất đau, rờ tay vào lại càng đau anh ạ. Tôi chia sẽ cho Dũng về niềm tin nơi Thiên Chúa, quyền năng của Ngài và đặt tay cầu nguyện cho Dũng để hy vọng Thiên Chuá bày tỏ quyền năng của Ngài chữa lành cho Dũng. Nhiều đêm, khi tôi tỉnh giấc, thấy Dũng đang ngồi thù lù khóc thút thít. Tôi hỏi Dũng: Sao vậy em? Nằm ngủ đi chứ! Em cứ thế này nếu anh Hùng mà biết lại khổ thân em ra. Có gì khiến em buồn thì hãy chia sẻ cho anh biết. Tôi lại đặt tay cầu nguyện cho Dũng và khuyên cậu ấy nằm xuống ngủ. Ngày tháng cũng dần trôi qua, Dũng quen dần với cuốc sống lao tù. Dũng bắt đầu tâm sự với tôi về cuộc sống gia đình của Dũng.
Dũng nói rằng gia đình Dũng nghèo lắm. Vợ Dũng thì bệnh tật đau ốm liên miên. Dũng có 2 cô con gái. Bé lớn học lớp 2, bé nhỏ còn học mầm non. Gia đình nội ngoại hai bên đều nghèo. Vợ chồng Dũng phải bươn chải kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau. Ngoài việc làm mấy sào ruộng, vợ Dũng tuy hay ốm đau nhưng vẫn cố gắng xin đi làm phụ cho một xưởng mộc gần nhà. Khi ốm thì nghỉ, khi khỏe thì đi cò Giấy Ráp trên các sản phẩm mộc. Mỗi ngày chủ xưởng trả cho 50.000 đồng. Dũng đi làm thuê khắp nơi, nhưng không đi đâu lâu được, vì hoàn cảnh éo le của gia đình. Cuôi cùng, cậu chọn làm nghề xe ôm để vừa tranh thủ kiếm tiền vừa gần gũi vợ và các con, khi họ cần chăm sóc. Dũng mua lại một chiếc xe máy cũ với giá 2 triệu đồng. Mỗi khi có thời gian thì tranh thủ ra Ngã ba Cầu Bùng đứng bắt khách. Dũng nói: Em không phải là dân xe ôm chuyên nghiệp nên khi tới Ngã ba này bắt khách cũng không ai cho, vì là “lãnh thổ” của người khác. Nếu muốn gia nhập cùng để làm ăn tại đây thì phải có tiền để xin nhập hội với họ, nhưng em không có tiền vả lại em chỉ đi tranh thủ chứ không chuyên nghiệp nên nếu bỏ tiền xin nhập hội xe ôm cũng lãng phí. Vậy nên em chỉ lén lút đứng ở những nơi mà những dân xe ôm chuyên nghiệp không đứng và chở khách với giá rẻ.
Khổ thân em! Vào một ngày gia đình bên ngoại có giỗ, em bảo ba mẹ con cứ sang ngoại trước, để em ra đường may ra kiếm được khách lấy tiền đi đám. Vừa ra tới Nga ba Cầu Bùng, được khoảng 15 phút, có một người khách đeo khẩu trang bịt kín mặt lại hỏi giá đi Cầu Dinh. Em bảo anh giá 60.000 đồng. Anh ta đồng ý lên xe. Em đưa mũ bảo hiểm cho anh ta đội và đi luôn, lòng thầm mừng vì đã có tiền chi cho đám giỗ 50.000 đồng, còn 10.000 mua xăng. Khi chạy gần tới Cầu Dinh. Người khách nói với em: Anh cho tôi gửi gói thuốc lá, tôi có điện thoại. Miệng nói, tay anh ta đút gói thuốc lá vào bao áo em, rồi rút điện thoại nghe. Em vô tư không nghĩ ngợi gì.
Đi thêm một quảng, anh ta bảo em dừng xe. Xe vừa dừng lại thì thấy Công an ập tới, trật tay em ra phía sau, họ lục túi áo em lôi ra gói thuốc lá mà người khách mới đút vào. Công an kiểm tra thì thấy trong gói thuốc có 12 điếu thuốc lá và một gói bột màu trắng, mà theo họ thì đó là hê-rô-in.
Em hốt hoảng nói: Tôi không biết gì, gói thuốc này là của người khách ngồi sau tôi đút vào. Công an nói: Người anh nói đâu rồi? Em quay lại phía sau thì người khách đã biến đi đâu không rõ. Vậy là em mất luôn cả cái mũ bảo hiểm mới mua 100.000 đồng. Không tìm được người ngồi sau, công an gọi một số dân chúng có mặt tại đó tới làm chứng về việc em có tàng trữ hê-rô-in trong người, sau đó bắt em về công an huyện Diễn Châu.
Tại đây em khóc kêu oan, nhưng bị họ đánh rất đau nên em sợ lắm. Sau đó họ cho một công an đứng tuổi tới nói chuyện nhẹ nhàng với em, người này khuyên em nên nhận tội, anh ta sẽ tìm cách cho em sớm được về với gia đình. Em nói: Nhưng em không biết gì về hê-rô-in và em bị người khách kia bỏ vào bao thì nhận tội sao được? Muốn khai cũng có gì để mà khai. Người công an kia nói: Anh sẽ giúp em: Em cứ làm theo những gì anh hướng dẫn là được. Em tin những gì anh ta nói nên chấp nhận. Vậy là anh ấy đọc cho em viết theo những gì anh ấy đã chuẩn bị trước. Vậy là sau khi em viết xong “bản tự nhận tội”. Họ ra lệnh tạm giam em và sau đó chuyển em xuống đây.
Tôi bảo Dũng: Vậy thì khi ra Tòa án em hãy phản cung và phủ nhận bản cung đó, em hãy nói hết nội dung câu chuyện mà em vừa nói với anh cho Toà nghe. Dũng nói: Chẳng được đâu anh! Em học hành chẳng tới đâu, lỡ ra Tòa phản cung, họ bực mình lại tăng thêm cho vài năm tù nữa thì em chết mất: Chắc án em cũng chỉ khoảng 2 năm, em cố gắng cải tạo tốt thì có thể được giảm 3 tháng, thôi em chấp nhận cho xong anh ạ, coi như đây là một kiếp nạn vậy. Em tin anh nên kể cho anh nghe, khi nào về anh nhờ cố gắng làm gì đó có thể mình oan cho em nhé.
Thương Dũng quá nhưng tôi chẳng biết phải làm sao.  Mặc dù không biết câu chuyện Dũng kể chính xác bao nhiêu phần trăm, nhưng qua quan sát Dũng sống trong buồng thì tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng vào thời điểm đó Dũng không phải là người nghiện ma túy. Ngay cả thuốc lá thuốc lào cậu cũng không biết hút. Dũng không hề có biểu hiện của một con nghiện như nhiều người khác. Dũng không phải là người nhạy bén, “khôn khéo” như những người khác. Cậu chân chất thật thà đúng bản chất của một nông dân, bởi vậy nên anh Hùng hay bắt nát cậu, mỗi khi bị anh Hùng uy hiếp thì tôi đều phải lên tiếng để bảo vệ.
Chắc bây giờ Dũng đã hết án trở về nhà, không biết Dũng có còn nhớ tới tôi không! Tuy nhiên tôi vẫn còn canh cánh trong lòng lời hứa của mình đối với Dũng. Theo tôi nghĩ thì Dũng chính là nạn nhân của căn bệnh thành tích trong ngành Công an Việt Nam. Trong những dịp Tết Nguyên Đán, hay 30/4 hoặc 02/09 hay bất cứ một dịp nào đó, các đơn vị đều phát động “Lập thành tích chào mừng…” và chỉ tiêu được đặt ra cho các tổ công tác. Bởi vậy, để đạt được chỉ tiêu, các tổ công tác buộc phải tìm mọi cách để tạo ra những vụ án tương tự như của Dũng. Bởi lẽ những tội phạm thực sự đã được bảo kê quá nhiều nên không dễ gì bắt được.
Tháng 8 ở Miền Trung thời tiết thất thường luôn rình rập muốn đổ lên đầu người dân nơi đây những “cơn giận của Thượng Đế”. Tháng 8 ở Việt Nam khi mà ngày khai sinh chế độ Cộng sản Việt Nam và cũng là ngày khai tử cha đẻ của nó sắp tới, không biết còn có bao nhiêu người dân thường bỗng dưng trở thành tội phạm khi mà Đảng tiếp tục phát động “thi đua lập thành tích để chào mừng…”?
Thanh hóa ngày 13/8/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 16 Câu chuyện của Nguyễn Đình Tình – Người bạn tù lâu nhất của tôi.
Vào khoảng tháng 5 năm 2011 Quản giáo Thành chuyển Nguyễn Đình Tình từ buồng 7 sang buồng 8 ở cùng chúng tôi và chuyển Thái Bá Châu từ buồng chúng tôi sang buồng 7 để lập buồng 7 làm buồng dành cho những phạm nhân ở độ tuổi dưới 18.
Nguyễn Đình Tình sinh năm 1989, quê ở xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ an. Khi Tình sang buông 8 thì anh Nguyễn Sỹ Hùng vẫn đang làm buồng trưởng. Do Tình đã ở tạm giam cũng khá lâu, nên anh Hùng không “làm thủ tục nhập buồng” mà chỉ căn dặn Tình phải “xem đó mà sống”! Ở cũng nhau được một thời gian, Tình đã nghe khá nhiều những câu chuyện Thánh kinh mà tôi vẫn hàng ngày kể cho các bị can cùng buồng nghe. Tình là người rất quan tâm tới từng nội dung câu chuyện và thường hay hỏi tôi những câu hỏi về lẽ đạo. Tình và tôi trở nên thân mật gần gủi. Tình kể cho tôi nghe rất nhiều về những  câu chuyện của Tình. Trong đó có những câu chuyện mà tôi không thể nào quên. Nay xin được tóm lược lại để quý đọc giả tỏ tường.
Tình sinh ra trong một gia đình có truyền thống “Cách mạng” Ông ngoại của Tình là cán bộ lão thành, quê ở Miền nam, tập kết ra Bắc, bố của Tình là một đảng viên đảng Cộng sản, Cựu chiến binh, thương bình, tham gia trong cuộc nội chiến tại phía Nam, về địa phương có khi làm trưởng thôn, có khi làm công an viên của xã. Tình tham gia nghĩa vụ quan sự về, gia đình cho cậu theo học trong một trường nghề tại thành phố Vinh.Tình làm quen với khá nhiều bạn bè mới và bắt đầu tham gia vào những cuộc chới bời thâu đêm và rồi Tình bỏ học, ăn chơi lêu lỗng. Tình thường cùng các bạn của mình bỏ nhà lên thành phố Vinh thuê nhà nghĩ, ngày thì đi cướp dựt dây chuyền, túi xách của người đi đường vào những giờ cao điểm. Tiền cướp được cả nhóm chi cho tiền thuê phòng và ăn chơi trác táng, Tình kể rằng nhóm bạn của cậu thường rũ thêm nhiều “bạn gái” có cả những cô nữ sinh cấp 3 tới nhà nghĩ cùng nhau dùng Ma tuy đá rồi đánh bạc và quan hệ tình dục kiểu bầy đàn. Cuộc sống sa đọ của Tình chưa lâu thì Tình và đồng bọn bị sa lưới trong một vụ cướp dây chuyền vàng. Cậu và đồng bọn bị đưa về nhà tạm giam công an thành phố Vinh. (những người tù ở đây quen gọi là Đồn thành).  Tại đây nhóm của Tình bị tra tấn rất nhiều để khai thác thêm thông tin về những vụ cướp khác trong khu vực TP Vinh và các huyện lân cận. Tình nói rằng công an điều tra treo tay cậu ta lên xà nhà, hai ngón chân cái rướn xuống thì gần chạm đất. Dùng roi điện, nịt lưng quất mạnh vào thân thể, thỉnh thoảng họ dừng lại và lại hỏi Tình về một vụ án nào đó mà họ nghi là nhóm của Tình đã tham gia. Nếu thừa nhận thì họ hạ dây treo xuống cho chân chạm đất để khai báo, nếu không chịu thừa nhận thì họ tiếp tục tra tấn. Cũng có khi họ lại cho một công an có vẻ “ nhân từ, hiền hậu” vào nhẹ nhàng khuyên nhủ: Hãy khai ra đi cháu, mày không khai ra thì chỉ khổ thân thôi! Mấy đưa kia khai hết rồi! Chú thường mày nên chú nói thật đấy! Nếu mày không khai thì mấy công an trẻ họ không kiềm chế được lại đánh cho khổ cái thân. Tình thú nhận rằng cậu có tham gia một vài vụ cướp  gần thời điểm bị bắt, còn những vụ trước Tình không biết, vì Tình chỉ mới nhập bọn, chứ nếu biết thì chắc cũng đã khai hết ra. Ấy thế nhưng công an không tin nên họ tiếp tục tra tấn. Họ treo Tình lên xà nhà như những lần trước, đánh đập làm cho thân thể bầm dập nhưng Tình có biết gì nữa đâu mà khai! Họ lột quần Tình ra, dùng bật lửa ga bật lên và đưa vào phần kiến, đốt trụi cả lông, lửa cháy xèo xèo, Tình vùng vẫy, càng vùng vẫy thì tay treo trên xà nhà càng đau. Khi lông cháy trụi, lửa tự tắt, họ lại tiếp tục tra hỏi Tình về một người tên là Bùi Hưng Th, Họ hỏi Tình có quen biết Bùi Hưng Th và cùng tham gia vụ cướp nào với Th không. Tình nói không biết thì họ lại bật lửa và hơ bên dưới “Ngọc hành” Nóng quá không thể chịu nỗi, Tình đành khai đại là có quên Bùi Hưng Th, nhưng không tham gia cùng Th vụ cướp nào. Từ nhiều nguồn thông tin do khai thác các đồng phạm của Tình nên Công an đã phục bắt được Bùi Hưng Th trong một lần Th cùng một người khác đang đi trên thành phố Vinh. Người đi cùng Th bỏ chạy còn Th bị bắt về Đồn Thành. Tình nói rằng Th bị tra tấn rất khốc liệt. Nhiều hôm nữa đêm khi đang trong giấc ngủ thì nhà giam lại bị đánh thức vì Công an vào đưa Th đi cung. Có lần đi cùng về Th bị bất tỉnh, Công an phải dìu Th vào buồng giam và vứt xuống nền nhà. Sau mấy ngày tạm giữ, không khai thác gì được từ nơi Th nên Công an buộc phải thả Th ra.  Nhưng Công an đã không bỏ cuộc, họ tiến hành phục bắt được người bạn khác của Th để tiến hành tiếp tục khai thác. Khi có được những lời khai từ những đồng phạm của Th, họ lại phát lệnh và bặt Th trở lại. Cũng vì Bùi Hưng Th không chịu khai nhận nên vụ án này kéo dài thời gian điều tra tới 8 tháng, Cũng vì thế mà Tình bị chuyển về Trại tạm giam tỉnh Nghệ an ở cùng buồng với tôi tới 6 tháng. Tình là người bạn tù lâu nhất của tôi trong thời gian bị giam giữ tại Nghệ an, cũng là người đầu tin gọi tôi bằng “thầy”. Không biết do Tình quý trong tôi do những câu chuyện tôi kể khiến Tình tỉnh ngộ, nên cậu gọi tôi như vậy để tỏ lòng tôn trọng hay cậu gọi vậy để lấy lòng tôi!? Kể từ đó các bị can trong buồng 8 đều gọi tôi bằng “thầy” một cách thân mật. Sau khi anh Hùng bị đưa đi xử và chuyển đi giam nơi khác thì buồng giam số 8 chúng tôi trở thành một “Hội thánh” nho nhỏ với 7 người. Chúng tôi thường cùng nhau cầu nguyện, học Kinh Thánh và hát thánh ca, mà không hề có kinh thánh hay sách vở gì. Qua nhưng buổi nhóm sinh hoạt, có lần Tình òa khóc và nói với mọi người. Tôi rất ân hận và xấu hổ vì đã biến mình thành một người con bất hiếu. Tôi mong rằng sớm được trở về để có thể ở bên cạnh gia đình, thỉnh thoảng đấm lưng, xoa bóp cho bố tôi mỗi khi trái gió trở trới ông bị đau bởi vết thương củ. Tôi thương mẹ tôi quá, cả đời mẹ lam lũ vì tôi. Vậy mà nhiều lần tôi chửi lại mẹ chỉ vị mẹ không cho tôi lấy xe máy đi chơi với bạn bè xấu. Tôi thấy xấu hổ vì mình đã khước từ sự che chở của người thân để muốn chứng mình bản lĩnh của mình bằng con đường sa ngã. Tôi giống như đứa con hoang đàng trong câu chuyện Kinh Thánh. Tôi muốn trở về nhà ngay bây giờ để nói với những người thân của tôi một lời xin lỗi để họ cho tôi tiếp tục được làm con của bố mẹ tôi và có cơ hội đáp đền công ơn nuôi dưỡng và chuộc lại những lỗi lầm.
Nghe những gì Tình buột miệng nói ra từ sâu thẳm tấm lòng, sau khi nghe tôi kể về câu chuyện “Người con trai hoang đàng” trong Kinh thanh Lu Ca đoạn 15. Tôi tin rằng Tình thực sự đã được khai sáng tâm linh, mặc dù lúc này Tình vẫn chưa bằng lòng tiếp nhận Chúa! Cho mãi tới Nô en năm 2011 trước khi bị đưa ra tòa xét xử, Tình mới nói với tôi: Thầy ơi! Con đã nghe nhiều câu chuyện thầy kể trong Kinh thánh, con  đắn đo mãi và bây giờ con quyết định tiếp nhận Chúa Giê xu làm cứu Chúa của con. Thầy hãy hướng dẫn con và cho con tiếp nhận Ngài, xin hãy làm phép Báp Têm (phép rửa theo cách gọi của người Công giáo) cho con. Kể từ nay con xin dâng cuộc sống này nguyện đi theo Chúa. Tôi vui mừng vì Tình đã có một quyết định khôn ngoan vào thời điểm mà chúng tôi sắp chia tay. Tôi tiến hành các nghi thức nhập đạo cho Tình ngay trong buồng giam một cách đơn sơ nhưng đầy thiêng liêng và mang nhiều kỷ niệm.
Tình bị kết am 3 năm tù giam về hành vi cướp dật tài sản. Sau khi ra tù Tình vẫn nhớ số điện thoại của vợ tôi nên gọi vào để hỏi thăm về tôi. Kể từ đó tới nay, mặc dù chưa gặp lại nhau nhưng Tình vẫn thỉnh thoảng gọi điên thoại hoạc nhắn tin cho tôi qua Facebook để hỏi thăm sức khỏe. Tình cho tôi biết cậu đã về nhà và hiện nay đang làm nghề lái xe tải, chở hàng cho khách. Hy vọng Tình vẫn con nhớ những gì Tình hứa với Chúa lúc còn ở trong nhà giam. Gần đây Tình cho biết cậu đã có bạn gái và có thể gần cưới vợ Tình muốn mời tôi vào tham dự hôn lễ, nhưng có lẽ tôi đành phải cáo lỗi với em bởi vì tôi vẫn còn bị canh giữ bới một bản án phi lý những vẫn có hiệu lực trong chế đọ toàn trị này.
Hẹn em sau 5 tháng nữa nhé Tình!
Thanh hóa ngày 16/8/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 17: “Đại bàng” và “Chim sẻ”

Ngoài xã hội, người người đang tấp nập.
Bao kẻ ngược xuôi chen lấn giữa dòng đời.
Kẻ bần hàn lo miếng cơm manh áo.
Kẻ giầu sang, lo chạy chọt tiến thăng.
Nới góc nọ, có người nằm chết đói.
Biệt thự kia, có kẻ tắm trong bia.
Ta ngồi đây nhìn đời sau song sắt.
Ngày tháng trôi qua chầm chậm đến nao lòng.
Cũng là tù những mỗi người mỗi khác.
Kẻ huênh hoang vỗ ngực “Đại bàng”.
Người co ro xem mình là “Chim sẻ”.
Sau song sắt “Đại bàng” là trên hết.
“Chim sẻ” cần gì cũng phải bẩm thưa.
“Đại bàng” không cho thì đừng hòng đụng tới.

Nếu không nghe thì chỉ có ăn đòn.
Cũng là tù những “Đại bàng” vẫn khác.
Có kẻ đấm lưng, múc nước đưa tăm.
Không vừa ý có quyền “ôn thủ tục”
“Chim sẻ” có ro, khúm núm biết phận mình.
Vào buổi một ngày cuối tháng 5 năm 2011. Sau khi anh Nguyễn Sỹ Hùng bị đưa đi xét xử thì quản Giáo Thành gọi tôi ra và giao cho tôi làm buồng trưởng buồng 8. Cũng vào thời gian đó; qua bức tường phân tách giữa buồng 7 và buồng 8 tôi nghe tiếng uỵch uỵch liên hồi rồi tới tiếng la oai oái, tiếng quán vọng sang. Tôi đoán rằng bên buồng 7 chắc lại đang có sự kiện, “Đại bàng” vồ “chim sẻ”. Tuy cách một bức tường nhưng lòng tôi vẫn thấy đau. Không biết chú “Chim sẻ” kia đã làm gì nên tội, mà sao “Đại bàng” “ôn thủ tụ” mãi chưa xong!? Tôi định bụng sẽ xin gặp quản giáo Thành để đề nghị xem xét lại hiện tượng này. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, không biết có nên không!? Mình nói ra mà mắt mình không trông thấy, thì biết nói sao đây! Lỡ như cậu “Chim sẻ” kia vì sợ nên không dám thừa nhận đã bị đòn thì mình lại tự rước họa vào thân! Cái suy nghĩ đó cứ dằn vặt tôi suốt mấy ngày trời. Tôi cầu nguyện với Chúa để Ngài bày tỏ cho tôi phải chọn cách nào tốt nhất để giải cứu cậu “Chim sẻ” kia ra khỏi cái hang “Đại bàng” hung dữ. Rồi một hôm vào buổi sáng mới mở cửa buồng giam; hôm đó quản giáo Thành nghĩ trực, một quản giáo khác trực thay. Vẫn là người quản giáo trẻ có tên Trung.  (Sau này tôi biết ở trại giam này tù nhân gọi người này là Trung Trắng, để phân biết với một người tên Trung khác gọi là Trung đen). Khi mở cửa buồng giam xong, quản giáo này đi lượn qua các buồng giam một vòng. Tôi nghe quản giáo Trung, hỏi ở bên buồng 7: “ Thằng kia! Sao mày ngồi trong đấy? Ra đây tao hỏi! Có thằng nào bắt mày ngồi như vậy hả? Lại bị “Đại bàng” bắt nạt hả? Tiếng trả lời của một bị can từ bên trong buồng 7: Dạ không đâu ông ạ! Hắn tự ngồi thế chứ không ai bắt nó vậy đâu ạ! Tiếng quan giáo nói: Tôi không hỏi anh! Anh kia ra đây mau! Anh gấp tư trang để đi buồng khác bây giờ! Lại nghe tiếng nói của bị can từ buồng 7: Xin ông cho con ở lại buồng này, con không muôn chuyển buồng nữa ông ạ! Quản giáo nói: Anh cứ ra đây, đi buồng khác ngay. Cửa buồng 7 mở liễng xiễng, bước ra khỏi buồng là một bị can cao to, da đen. Quản giáo dẫn cậu ta sang buồng 8, mở cửa buồng và bảo anh ta: Anh vào buồng này. Chúng tôi chỉ biết đứng nhìn; vì đâu có quyền gì mà nói! Cảnh cửa buồng đóng lại, người mới bước vào cứ trong buồng giam khúm núm ôm tư trang đứng dưới “Xa lộ”. Tôi bảo: Bỏ đồ lên bục rồi đi tắm ngày đi em, nước đang bơm đó tắm đi! Buồng này anh em tắm cả rồi. Tắm xong rồi mình nói chuyện sau. Cậu ta nói: Vậy xin phép các anh cho em được tắm. Tôi nói tiếp: Tắm đi! Cậu ta đi tắm xong lại chạy ra hỏi: Xin phép các anh cho em đi vệ sinh. Tôi cười nói: Thằng này mày sao vây? Đi vệ sinh thôi mà cũng xin phép à? Đi đi, cứ tự nhiên như ở nhà ấy. Đi vệ sinh xong cậu ra “Chuồng cọp” ngồi với chúng tôi và giới thiệu tên tuổi. Thưa các anh: Tên em là Nguyễn Xuân Thìn quê ở Diễn Châu, hiện sống ở Thanh Đức, Thanh Chương ạ. Em bị bắt vì cướp dật điện thoại di động. Em mới vào buồng, có gì mong các anh chỉ bảo. Tôi nói: Thôi biết vậy là được rồi! Cứ sinh hoạt tự nhiên, nhìn nhau mà sống cho vui vẻ. Sau vài ngày sống với nhau quen dân, Thìn bắt đầu kể cho chúng tôi nghe khá nhiều chuyện.
            Thìn sinh năm 1988 Có bố mẹ làm ở Tổng đội thanh niên xung phong 2 đóng trên địa bàn xã Thanh Đức. Có lần Thìn về quê Diễn Châu chơi với ông bà Ngoại, vào một buổi tối, Thìn cùng Tài  (người anh con của chị gái mẹ Thìn) đèo nhau đi chơi bằng xe máy. Đang đi thì thấy trước mặt có một người đi xe đạp đang nghe điện thoại, Tài bảo Thìn đánh lái ghé lại gần, Tài dật chiếc điện thoại của người đó rồi rồ ga bỏ chạy. Về tới nhà mới phát hiện chỉ là một chiếc điện thoại củ, Thìn mang bán cho chú của mình được 2 trăm ngàn, nhưng do không có cục sạc pin nên phải bớt cho chú 2 mươi ngàn. Không ngờ chú của Thìn mang điện thoại ra dùng thì lại bị chủ nhân chiệc điện thoại là người gần nhà chú phát hiện ra, rò hỏ chú, chú cho biết là mua của Thìn và Tài. Thế là Công an huyện Diễn Châu triệu tập cả hai lên để thẩm vấn. Lúc này chủ nhân của chiệc điện thoại biết thủ phạm chính là người quen,  nên đã xin rút đơn trình báo hôm trước nhưng không được chấp nhận. Với lý do: Đơn đã được xem xét đang tiến hành điều tra nên không thể rút lại. Vào công an huyện Thìn và Tài đã khai hết sự thật. Sau khi đã lấy cùng xong thì chú họ của Thìn (một công an của huyện Diễn Châu) mới biết là cháu của mình đang bị bắt giam, nên tới gặp gỡ. Sau khi trao đổi thì Thin biết rằng mình không có thể được trả về vì hành vi cướp dật tài sản. Chú họ Thìn nói rằng: “Cháu phải chấp nhận ở đây một thời để chú và gia đình lo liệu, trước mắt cháu phải nhận hết tội về mình để cho thằng Tài nó được thả, vì nó mới thi đậu đại học an ninh. Bây giờ mà dính vào vụ này thì coi như sự nghiệp của nó sẽ chấm hết. Thìn đồng ý như vậy nên Công an đã cho Thìn và Tài gặp nhau bàn bạc theo sự hướng dẫn của điều tra viên, sau đó thay đổi bản cung để cho Tài vô tội. Tài được thả về, Thìn bị tạm giam 3 tháng chờ điều tra xét xử. Thìn bị chuyển vào buồng 7 một tuần trước khi được chuyển sang buồng 8. Thìn nói: Khi vào buồng đó Anh Ngọc Anh buồng trưởng cấm không cho em đi lại trong buồng, ăn xong là em phải ngồi bó gối dưới “Xa lộ” Muốn đi tiểu hay đi đại tiện đều phải xin phép. Một ngày hai lần anh ấy bắt lỗi và thông ngực em. Trước khi sang đây, em chưa được tắm một lần cho sạch, vì mỗi lần tắm anh Ngọc Anh chỉ chia cho em có nửa xô nước, em xin phép đi đại tiện, nhưng cứ ngồi vào được một chút chưa đi được thì anh ấy đã quát em nhanh lên, vì em bị nhiệt quá không thể “giải quyết” nhanh được, sợ quá em lại phải đứng dậy. May mà em được chuyển sang đây chứ nếu em ở thêm bên đó chỉ 3 ngày nữa chắc em chết vì trướng bụng! Thìn nó tiếp: Mỗi bửa sáng Ngọc Anh chỉ múc cho em 2 thìa mì tôm vào bát và bắt em ngồi nhìn anh ta ăn, quản giáo có đi ngang cũng không biết là em không được ăn, vì trong bát em vẫn có dấu mì. Mặc dù khi vào buồng trong sổ của em có 20 gói mì tôm, nhưng em chẳng được ăn. Mà nói thất nếu có được ăn mà không được đi đại tiện thì cũng chết anh ạ! Đã thế ngày nào cũng bị đánh. Tôi hỏi: Sao hôm cán bộ bảo em lấy tư trang chuyển buồng mà em vẫn còn xin ở lại đó? Thìn nói: Em rất sợ đi buồng khác em lại tiếp tục chịu “thủ tục” một lần như ở bên đó thì em chết thật, nên em nghĩ chấp nhận ở lại đó vẫn hơn. May sao cán bộ cho em vào buồng này, thật là em có phúc lắm rồi! Chỉ sau 3 ngày vào buồng 8 Thìn đã mau chóng tiếp nhận Chúa và sau 10 ngày nữa cậu đã chịu phép Báp Têm, Thìn là người đầu tin tôi cải đạo được ở trong tù đã bằng lòng Báp Têm.
Thìn bị đưa ra tòa xử mức án 3 năm, do được giảm án nên Thìn ra tù vào dịp ngày 2/9/2013 vừa qua. Thìn có liên lạc và ghé nhà tôi chơi một lần nhưng trong hoàn cảnh cậu đi đánh bạc bị thua nên vay nặng lãi tại xới bạc, không ngờ vẫn trắng tay. Không hiểu sao Thìn bị người ta đánh cho “toác cả đầu”. Ngày hôm đó tôi báo cáo công an xã để đưa con gái đi bệnh viện điều trị thì nhận được điện thoại. Tôi bấm máy nghe thì nghe tiếng Thìn: Thầy ơi cứu con thêm lần nữa. Con cần thầy cứu giúp con! Tôi hỏi có việc gì vậy? Thìn nói thật với tôi là đã lỡ tham gia đánh bạc và vạy nặng lãi bây giờ không có trả; họ đang giữ cả Thìn và bạn cậu ấy lại. Tôi nói với Thìn: Thầy rất buồn khi nghe tin em như vậy! Nhưng thầy không có tiền để chi cho em đi cờ bạc. Hơn nữa con gai thầy đang nằm viện, thầy lại đang bị quản chế đâu có tiền mà giúp. Thìn nghe tôi nói vậy thì lại khẩn khoản nói: Thầy ơi! Ngoài thầy ra con không biết nhờ ai được mong thầy hãy cứu con. Tôi hỏi: Vậy em nợ họ bao nhiêu có thể thầy nhờ người tới bảo lãnh cho con được không? Thìn nói: Con chỉ nợ có 9 triệu thôi, con đã gọi điện và nhờ chú con cho con vay được 6 triệu, thầy có cho con vay thêm 3 triệu nữa là được. Thầy cứu con thầy nhé! Rất bực mình với cậu “Học trò” hư hỏng, nhưng thấy giọng khẩn khoản của Thìn nên tôi lại thương. Tôi bảo: Cứ bắt xe ra đây, thầy sẽ vay tạm đâu đo cho. Thìn bắt xe đi tới gặp tôi, Ngồi nói chuyện, Thìn mở mũ cho tôi xem, tôi thấy một vết toác trên đầu cậu ta, máu chảy đã khô. Tôi vội vàng đưa Thin vào viện khâu 9 mũi khâu, lấy cho cậu ít thuốc sau đó đưa về nhà mình. Tôi gọi điện thoại cho mấy người bạn vay tạm 3 triệu đồng đưa cho Thin. Thin vội vả lên xe về Nghệ an ngay, chưa kiệm nói chuyện nhiều. Sau đó Thìn có liên lạc với tôi vài lần nhưng rồi dần mất tin. Tôi gọi điện thoại mà không liên lạc được. Không biết hoàn cảnh cuộc sống của Thìn bây giờ ra sao rồi? Tôi có nhờ Nguyễn Đình Tình tìm cách liên lạc với Thìn giúp tôi, nhưng Tình cũng không liên lạc được.Tôi thấy lo cho em lắm! Thìn là người có tính rất bộp chộp không khôn khéo, nhưng lại thích thể hiện mình. Không khéo giờ này lại đang ngồi trong nhà giam đâu đó để tập làm “Đại bàng” cũng nên! Vì khi ở trong tù mặc dù tôi đã khuyên Thìn phải biết sống yêu thương, không thù hận, nhưng nhiều khi Thìn vẫn nói rằng: Tha thứ cho ai thì được nhưng nếu bảo con tha thư cho buồng trưởng Ngọc Anh thì rất khó. Ra xã hội con gặp ở đâu con sẽ trị ở đó. Tội bảo Thìn rằng khó mấy cũng phải cố không đước nuôi ý định trả thù, vì việc trả thù thuộc về Chúa.
Hy vọng Thìn vẫn bình an trong tay Chúa! Chúa ơi cầu xin Ngài hãy tiếp tục thương xót và đưa Thin trở lại với tình yêu mà Ngài đã dành cho cậu ấy. Xin đừng để cậu ấy lại một lần nữa sa vào chốn tù tội như trước đây.
Thanh Hóa ngày 19/8/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 18: Roi “Thánh Gióng” trong tù và nguy cơ lây nhiễm HIV.
Vào một buổi tối bình thường như mọi buổi tối khác trong nhà A1a Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ an; khoảng trung tuần tháng 8 năm 2011. Buồng chúng tôi vẫn nhè nhẹ hát thánh ca, cầu nguyện và chia sẽ tâm tình cùng nhau. Nhưng hôm đó có sự kiện đặc biệt hơn những hôm khác, vì buồng chúng tôi sẽ chia tay Nguyễn Duy Ngọ, bởi sáng ngày kia cậu sẽ phải ra tòa và biết chắc kết quả là cậu sẽ được thả về ngay tại tòa. (Gia đình đã thông báo cho Ngọ biết vậy!) Vì thế tôi dành nhiều thời gian hơn cho cậu ta; dặn dò tỉ mĩ nhiều điều để sau khi trở về Ngọ có thể sống tốt hơn. Tôi cũng gửi gắm cậu vài điều. Bên buồng 7  cũng có mấy người có lịch ra tòa vào ngày đó. Vậy nên họ gọi sang buồng chúng tôi để chào tạm biệt, vì biết chắc chiều ngày mai công an các huyện sẽ tới đưa bị can về huyện để chuẩn bị cho phiên xử ngày kia. Cậu Thìn buồng tôi có hát tặng anh em một bài hát gì đó, tôi không nhớ rõ. Sau đó phía buồng 7 cũng hát tặng lại để chào tạm biệt. Không gian trở nên ôn ào khi cả buồng 7 cùng hát đồng ca và dùng xô nhựa làm trống để hòa nhạc cùng bài hát. Thình lình, chúng tôi nghe tiếng bước chân dồn dập bên ngoài, tiếng chia khóa liễng xiểng mở cửa buồng chúng tôi, đèn pin dọi vào trong buồng. Tội lại nghe tiếng trực trại Lê Tuấn Anh nói: Không phải buồng đó mà là buồng này! Tiếng chìa khóa chuyển vị trí sang buồng 7. Cửa buồng mở ra, tiếng quát thoát của các công an trở nên ồn ào. Qua ô cửa nhỏ tôi nhìn ra thấy có khoáng 5 hay 6 công an quản giáo, có người mặc đồng phục, có người cởi trần mặc quần đùi. Tôi nhận ra  Trung tá Hà là Đội trưởng đội quản giáo, nhưng các phạm nhân vẫn quen gọi ông là “Ban Hà” (Tức là cán bộ trên ban giám thị), Trực trại Lê Tuấn Anh, quản giáo nhà A1b tên là Hùng (Có biệt dành là: Hùng Sát Thủ) và vài ba người tôi không biết tên.
Tiếng quản giáo Hùng gầm lớn: Thằng nào? Thằng nào làm buồng trưởng? Tiếng phạm nhân Thái Bá Châu run run nói: Dạ thưa ông là con ạ! Anh ra đây! Thái Bá Châu bước ra khỏi buồng. Quản giáo Hùng quát lớn: Các anh định làm loạn nhà giam hả? Bộp, bộp… Tiếng gậy cao su đập vào người Châu kêu liên tiếp lẫn vào tiếng gầm thét của các Công an cùng tiếng van xin của các bị can “ Con xin ông ạ, con biết lỗi rồi!”. Họ bắt tất cả 7 bị can trong buồng 7 cùng ra ngoài. Bắt nằm sấp xuống. tiếp theo họ lấy khăn mặt của các bị can, bắt họ ngậm vào miệng cho khỏi la và khỏi cắn phải lưỡi. Dùng gậy cao su quất vào mông mỗi người từ 5 tới 7 gậy. Ngoài ra Thái Ba Châu là buồng trường còn bị quản giáo Hùng dùng chân đá liên tục vào bụng, sau đó lần lượt bắt từng người bò vào buồng.
Tưởng như vậy là xong. Không ngờ sáng ngày hôm sau, quản giáo Thành đang trong thời gian nghĩ trực dài ngày, nên một quản giáo tên Nguyễn Thanh Sang phụ trách trực nhà A1a. Quản giáo Sang đi tới nhà giam, tay cầm theo cây gậy “Thánh Gióng” (Một loại công cụ của các quản giáo dùng để trị tù, làm bằng thép B 40 gấn đôi, xoắn vào nhau, trên thân của sợi thép được chặt nhớm tạo thành những chiếc gai. Một đầu được gắn vào cán gỗ để cán bộ cầm). Các buồng giam được mở cửa như thường lệ. Cửa buồng 7 và buồng 8 mở sau cùng. Quản giáo yêu câu cả buồng 7 bước ra ngoài, cởi hết áo, nằm sấp xuống nền nhà, lột luôn quần đùi xuống, để lòi Mông ra, Miệng ngậm khăn mặt. Quản giáo Sang dùng roi “Thánh Gióng” hết sức mạnh quất vào Mông và lưng một người từ 5 tới 7 roi. Máu chay ra trên các dấu roi quất vào, cứ thế lần lượt từ người này sang người khác. Sau đó cho họ vào buồng. Tiếng chìa khóa lại chuyển sang buồng 8. Quản giáo Sang gọi: “Anh Tôn ra ngoài gặp ban giám thị!” Tôi mặc quần áo dài và đi ra. Có một người là phó ban giám thị (Ban Thìn) tới đưa tôi ra ngoài nhà cung. Tại đây phó giám thị hỏi tôi rằng: “Anh ở đây đã lâu, anh thấy chế độ nhà giam thế nào? Có gì thắc mắc không? Nếu có gì cần đề xuất anh cứ trao đổi thẳng thắn với tôi. Nếu thấy có thể đáp ứng được tôi sẽ đề nghị ban giam thị xem xét cho anh”. Tôi có đề nghị một vài vấn đề về chế độ ăn uống, nước nôi, nhưng quan trọng nhất là tôi đề nghị được nhận và đọc Kinh thánh. Ông phó giám thị nhận lời sẽ xem xét đề nghị của tôi. Ông hỏi tôi tiếp: “Tại sao tôi qua buồng 7 và buồng 8 của anh lại vi phạm kỷ luật, gây mất trật tự nhà giam”? Tôi trả lời rằng buồng 8 chúng tôi không gây ôn ào gì cả, chúng tôi chỉ hát nhè nhẹ trong buồng để chia tay mấy người sắp đi xử thôi.
Khoảng 30 phút sau Phó giám thị dẫn tôi trở lại buồng. Về tới nơi, quản giáo Sang chỉ vào tôi và nói: “Còn anh nữa! Tôi sẽ tính tới anh sau! Cửa buồng 8 mở ra. Tôi bước vào buồng. Than ôi! Đập vào mắt tôi là 6 đôi mông bê bết máu, với những lằn roi “Thánh Gióng” hằn lên. Các bị can không mặc được quần vì đau. Họ nằm sấp xuống bục. Tổi hỏi: Các em vừa bị đánh hả? Cả buồng đồng thanh: “Vâng ạ! Họ không có ý định đánh anh và cũng không muốn cho anh chứng kiên nên đã gọi anh ra ngòai. Các em bị mỗi đứa 3 roi, riêng Phan Văn Hồng bị thêm 2 roi vì là đã đi tù tăng 2”. Thương các em quá, nhưng biết làm thế nào! Tôi cố gắng động viên mọi người chịu đựng, mặc quần vào cho quen đi, chỉ đau chút ngoài da thôi, nếu như là họ đánh bằng gậy cao su tuy không chảy máu nhưng còn đau cả phần thịt phần xương.
Tuy nói vậy để động viên mọi người, nhưng tôi không khỏi lo lắng cho họ, vì chiếc roi “Thánh Gióng” này đã được dùng để đánh rất nhiều người, biết đâu trong số đó có người nhiễn vi rút HIV thì nguy cơ lây nhiễm vào các em là rất cao! Tôi không dám nói ra suy nghĩ của mình với các em, vì không muốn gây thêm sự buồn lo cho các em. Tôi đã định bụng sẽ gặp Ban giám thị để đề nghị chấm dứt việc dùng loại roi này để đánh các bị can, nhưng đâu có cơ hội, vì việc gặp Ban giám thị là rất khó đối với chúng tôi. Biết chắc chiều hôm đó, Nguyễn Duy Ngọ sẽ bị đưa về công an huyện để ngày mai ra tòa xét xử và được trả tự do. Tôi dặn Ngọ khi về nhà hay dùng máy ảnh chụp lại thương tích và lưu giữ lại khi nào tôi về hãy đưa cho tôi làm tư liệu tố cáo. Thất tiếc khi tôi ra tù, Ngọ gọi điện cho tôi và nói rằng cậu đã làm theo lời tôi dặn, dùng điện thoại chụp lại hình ảnh đó, nhưng không may là chiệc điện thoại đó lại bị rơi mất. Ngọ có liên lạc với tôi vài lần, và hẹn sẽ ghé thăm tôi, nhưng không hiểu vì lý do gì cậu ta cắt hẳn liên lạc với tôi. Khi tôi gọi điện thoại cho cậu ta thì người trả lời là bố của cậu. Ông khuyên tôi không nên liên lạc với Ngọ nữa vì gây thêm phiền phức cho cậu ta. Vậy là tôi có thể đoán được nguyên nhân có nhiều người sống chung với tôi trong tù, tình cảm anh em gắn kết như thầy trò thật sự. Ai cùng thề thốt sẽ không bao giờ quên nhau, không bao giờ từ bỏ đức tin nơi Chúa, nhưng nay thì hầu hết họ đã cố tình lãng tránh tôi. Xót xa đau đớn vô cùng! Tôi đâu có ý định gì xấu xa khi muốn giữ liên lạc với những người này. Thật ra tôi muốn giúp họ hiểu biết hơn về cuộc sống. khuyên răn họ sống sao cho cuộc đời có ý nghĩa hơn thôi. Nhưng có lẽ trong số họ có nhiều người đã bị uy hiếp từ một thế lực nào đó, nên đã phải cắt liên lạc với tôi! Hay có thể có người đã nhiễm HIV và đột ngột qua đời cũng có thể vì một lý do khách quan nào đó!? Nhưng tôi vẫn hy vọng rằng các em không phải trở lại chốn lao tù đầy nguy hiểm đó nữa.
Các em của anh ơi! Lằn roi “Thanh Gióng” chắc vẫn còn hằn trên thân thể các em, nó cũng vẫn còn in sâu trong tâm trí của anh, hy vọng rằng các em không ai bị lây nhiễm thứ vi rút quái ác kia! Bằng mọi giá anh sẽ tìm gặp lại các em để thực hiện những gì anh đã hứa.
Qua bài viết ngắn này tôi cũng muốn nhắn nhủ tới những người có trách nhiệm trong các nhà tù trên cả nước. Đề nghị các vị hãy chấm dứt ngay những hình thức tra tấn tù nhân theo kiểu tàn độc nói trên.
Thanh Hóa ngày 20/8/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 19: Chế độ ăn uống và chữa bệnh trong trại tạm giam.
“Sáng thịt, chiều rau, ốm đau báo thuốc”. Đây là câu tuyên truyền cho các thân nhân bị can đang bị tạm gian của các cán bộ Công an Trai tạm giam giam Công an tỉnh Nghệ an ( Trại giam Nghi Kim) mà hầu hết các thân nhân đều được nghe. Các bị can hầu như có thể ai cũng thuộc.
          Họ nói rất đúng không hề sai đâu! Sáng khoảng 9h chúng tôi đã được nhận cơm trưa. Cơm được đựng trong chiếc gô nhựa có đậy nắp, mở nắp ra sẽ thấy một miếng thịt lớn bằng 2 ngón tay, dày hơn lưỡi lam cạo râu khoảng 5 lần. và một ít nước có chế chút bột màu vàng vào, (gọi là nước thịt) những cũng có khi có khi không, vì trong quá trình vận chuyển có thể đã bị đổ, có thể do ngăn đựng đồ ăn trong gô bị vỡ nên loại nước màu vàng đó đã chảy mất. Buổi chiều thì vào khoảng 15 giờ chúng tôi được nhận rau, tùy theo mùa nào rau nấy. Nhưng đa phần là rau muống. Loại rau muống mà chúng tôi nhận có cả cái cả nước, ngọn vừa to vừa dài trong rau có cả bèo tấm lại lẫn nhiều thứ cỏ, đôi khi có thêm một vài chú sâu to hoặc chú Đỉa. Chúng tôi vớt rau ra khỏi nước, cố gắng nhặt lấy những ngọn có thể nhai được, còn lại thì đổ vào sọt rác, nước luộc rau thì để trong chậu cho nó lắng thứ cặn bả màu đen xuống rồi chắt lấy nước trong, dùng thìa gợt những cánh bèo ra ngoài, bỏ chút bột canh vào để nuốt cho trôi miếng cơm. Có khi thì là canh củ đậu, nhưng nhà bếp chỉ đun nước sôi rồi đổ củ đậu vào và múc chia cho chúng tôi. Nước canh thì trong như nước uống, Củ đậu lạt đớ không ai ăn được, nếu ai vì tiếc mà cố ăn thì phải chấm với đường; nhưng ăn nó vào thì tha hồ mà đi tiểu đêm. Vì vậy mà loại củ đậu này cũng thường được đổ vào sọt rác. Cơm mà chúng tôi nhận mỗi suất được lưng gô; theo cán bộ nói thì tiêu chuẩn cơm của chúng tôi là mỗi người được 0,5 kg, nhưng có ai cân đâu mà biết chính xác đủ hay thiếu ( Có lần tôi thắc mắc cơm ít quá, quản giáo đã mang cân lại cân trước cửa buồng tôi cho tôi chứng kiến và cả cậu nhà gánh cơm nhìn, thấy gô cơm cân được 4,5kg. Quản giáo đã cảnh cáo cậu này và yêu cầu lần sau phải lấy cơm vào gô cho đầy đủ) Loại cơm mà chúng tôi ăn có khi vàng, khi trắng, nhưng hầu hết mang một thứ mùi đặc trưng của gạo kho quá hạn. Trong cơm có điểm thêm nhiều hạt thóc vàng hay đá sỏi. Bới vậy để có thể ăn được thứ cơm này; chúng tôi phải đổ từng gô ra chậu nhựa, dùng thìa đánh cho tơi và nhặt thóc và đá sỏi ra ngoài, vì cơm nhão nên muốn nhặt một hạt thóc thì nó lại dính theo mất ba hạt cơm. nên thứ cơm này chúng tôi cũng đổ vào thùng rác. Thế mới có chuyện “Ở tù tạm giam mà cơm canh ăn thưa thải”
Nói về ốm đau có thuốc thì cũng không sai! Mỗi buổi sáng sau khi mở cửa buồng giam thì quản giáo trực tiếp hoặc sai Vệ Sinh Trưởng đi lấy danh sách các buồng xem có ai báo ôm đau gì thì ghi vào sổ và nộp cho các cán bộ bác sỹ bệnh xá. Buổi chiều, có bác sỹ trạm trưởng là thiếu ta Dũng, hoặc nữ bác sỹ – thiếu tá trạm phó tên Hoan dẫn theo một tù nhân tay xách theo khay thuốc, tới nhà giam. Nếu bị can nào chỉ báo cáo là mình bị các bệnh đơn giản như: Đau đầu, đau bụng cảm cúm thì sẽ nhận được hai loại thuốc, Một loại màu vàng và một loại màu trắng, ai bị ho hay cảm cúm thì sẽ được vệ sinh trưởng hoặc người tù đi theo các bác sỹ, nhỏ vào mũi từ 2 tới 3 dọt “nước tỏi” khi nhỏ loại nước vào, bị can sẽ hắt hơi liên tục và thế là khỏi bệnh. Bọn tù chúng tôi gọi thứ “nước tỏi” đó là “Nước tiểu bà Hoan”. Nếu như ai không may bị đau bụng đi ngoài hay ốm đau nặng, không phải chỉ đau đầu đau bụng đơn thuần; thì quản giáo mở cửa cho ra ngoài để bác sỹ khám. Có lần tôi cảm thấy bên thận trái của mình đau, lại thêm lồng gực tôi cũng cũng vậy, (do trước khi bị bắt, tôi vừa phải chịu một trận đòn nhừ tử bởi bọn Công an, đầu gấu vào hôm đi tổ chức lễ giáng sinh. Bệnh viện kết luận tôi đã bị tổn thương Phổi). Tôi xin được ra khỏi buồng giam để nhờ bác sỹ khám thử xem sao. Những người ra gặp bác sỹ Dũng khám bệnh, phải xếp hàng đứng cách xa ông khoảng 3m. Gọi tới ai thì tiến lại gần để bác sỹ khám bệnh.
Tôi chứng kiến cách khám bệnh của bác sỹ Dũng và có nhận định: Ông còn giỏi hơn cả các ngự y thời phong kiến Trung Quốc rất nhiều!
 Bác sỹ Dũng ngồi trên ghế, bệnh nhân khúm núm đứng cách khoảng 1 m trước mặt, bác sỹ.
Bs hỏi: Bệnh gì?
Bn: Dạ thưa ông; Con bị đau bụng đi ngoài.
Bs: Bị lâu chưa?
Bn: Dạ từ tối hôm qua ạ!
Bs: Vậy đi mấy lần rồi?
Bn: Dạ từ đêm tới giờ con đi khoảng 7-8 lần ạ!
Bs kết luận: Như vậy thì hết phân rồi còn gì! Vào đi! Đi hết phân là khỏi thôi mà!.
Người tiếp theo được gọi bước tới. Cũng những câu hỏi tương tự.
Bs: Bệnh gì?
Bn: Dạ thưa cán bộ con bị đau bụng đi ngoài ạ!
Bs:Bị lâu chưa?
Bn:Dạ thưa từ tôi qua tới giờ ạ!
Bs: Đi mấy lần rồi?
Bn: Dạ thưa khoảng 3-4 lần ạ!
Bs: Không sao đâu! Như vậy là bình thường thôi mà! Tối nay đi thêm vài lần nữa sẽ khỏi.
Lại tới người khác tiếp theo.
Bs: Bệnh gì?
Bn: Dạ con thấy đau trong vùng bụng, tức khó chịu, mỗi khi ho hay thấy nhói đau ạ!
Bs: Anh đau chỗ nào chi tay vào đó tôi xem!
Bn: Chỗ này ạ! (Lấy tay chỉ vào chỗ đau).
Bs: Chỗ này có đau không? Chỗ này thì sao? ( Đưa chân lên lấy mũi dầy nhúi nhúi vài cái vào nơi bệnh nhân chỉ)
Nếu không dùng mũi dầy thì bác sỹ cầm cây bút trên tay, lấy bút nhúi nhúi vài cái và kết luận: Bệnh này không chết được đâu về buồng đi!
Bác sỹ bảo người tù đi cùng gói vài viên thuốc Vàng vàng, trăng trắng gì đó đưa cho bệnh nhân rồi trả vào buồng giam.
Tôi đứng sau cùng để có cơ hội quan sát. Bác sỹ khám nhiều loại bệnh chỉ bằng mũi dày và chui bút mà phát chóng cả mặt.
Tới lượt tôi!
Bs: Bệnh gì?
Tôi: Dạ tôi thấy đau ngực khó thở và hình như Thận cũng bị đau nên thắt lưng đau lắm ạ!
Bs: Bị lâu chưa?
Tôi: Dạ tôi bị đau ngực trước khi vào đây; do bị Công an và côn đồ đánh ạ!
Bs: Sao lại bị đánh?
Tôi: Dạ tôi đi tổ chức lễ mừng Chúa giáng sinh nhưng họ không cho nên họ đánh ạ!
Bs: Thế đã khám ở bệnh viện chưa?
Tôi: Dạ chụp phim và có kết luận là bị Tổn thương phổi ạ!
Bs: Thế Thận bị lâu chưa?
Tôi: Dạ tôi chỉ đoán vậy thôi; ở nhà tôi không bị bệnh này, nhưng vào đây thì thấy dấu hiệu có thể là bệnh thận ạ!
Bs: Bệnh này là bệnh xã hội, hết án về xã hội mà chữa, ở đây không điều trị bệnh này! Riêng thận thì anh cứ ăn nhiều rau, uống nhiều nước vào là ổn! Thôi về buồng đi!
Tôi trở về buồng mà thấy ngao ngán, thề rằng sẽ không bao giờ báo ốm để ra khám bệnh nữa.
Tuy vậy nhưng cũng có lần ở nhà C2 trong thời gian kháng án, vào ban đêm,  tôi đau đầu quá, phải nhờ anh em gọi cấp cứu, khoảng 30 phút sau có trực trại Lê Tuân Anh vào hỏi xem ai bị làm sao. Sau khi biết người bị bệnh là tôi, Trực trại đi gọi Nữ bác sỹ Hoan tới khám cho tôi. Cửa buồng mở ra, anh em trải một chiếc chiếu cho tôi nằm, Bác sỹ Hoan đo Huyết áp cho tôi, sau đó đưa cho tôi một lều thuốc và yêu cầu tôi phải uống ngay. Tôi làm theo bà bảo, lại hỏi xin thêm lều nữa nhưng bà không đồng ý; mà bảo tôi: Nếu chưa thấy khỏi thì gọi tiếp tôi sẽ gửi thuốc cho chứ không cấp thuốc quá liều dùng. Tôi uống thuốc vào khoảng 30 phút nằm ngũ yên và thấy không còn đau nữa. Thì ra thuốc bà Hoan đưa cho tôi uống cũng có công hiệu thật chứ không phải loại Vàng vàng, trăng trắng như thuốc phát hàng ngày!
Với môi trường sinh hoạt chật chội, nước nôi thiếu thốn, ăn uống mất vệ sinh như vậy, lại thêm lối “chăm sóc sức khỏe đặc biết” của trại giam như vậy thử hỏi có ai sau khi ở nhà tù trở về mà lại không mang trong mình  bệnh tật đủ loại!?
Nhưng hình như câu tuyên truyền của trại giam là “ Sáng thịt, chiều rau, ôm đau báo thuốc”vẫn có sức thu hút! Hàng ngày đoàn người vẫn kéo vào đấy để “Được hưởng chế độ của Nhà nước”. Không ngày nào là ngày mà trại giam không tiếp nhận bị can mới vào.
Tôi viết lại câu chuyện này để các đọc giả trong và ngoài nước đặc biệt là những thân nhân của các tù nhân được rõ và hãy cùng nhau lên tiếng đề nghị nhà cầm quyền Việt Nam phải có chính sách cụ thể để cải thiện cuộc sống chốn lao tù tốt hơn. Có cải thiện được môi trường sống và thái độ đối xử của các cán bộ công an trong nhà giam, thì mới có thể cảm hóa được lương tâm của những người đã từng lầm lỡ. (Trong số đó không bao gồm tôi và những người yêu nước).
Thanh Hóa, ngày 21/8/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 20: Những Công Cụ Của Đảng Dán Nhãn Nhân Dân
Vào khoảng tháng  10 năm 2011; sau khi hô sơ Cáo trang về vụ án của tôi đã chuyển lên Tòa án;  quản giáo Thành mở cửa buồng giam số 8 và nói: “ Nguyễn Trung Tôn mặc quần áo dài ra ngoài gặp luật sư.  Tôi mặc quần áo dài vào đi theo hai cán bộ dẫn giải với đôi tay bị còng số 8. Đi ra tới cổng trại, họ mở còng cho tôi và đưa tôi vào một căn phòng nhỏ, bên trong được bố trí sẳn một chiếc bàn và mấy chiếc ghế. Họ bảo tôi ngồi đợi ở đó. Có cán bộ trực trại tên là Thái Hoàng ngồi đó. Khoảng 15 phút thấy một người mặc quần áo dân sự bước vào, đưa tay bắt tay tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu: “ Chào anh Tôn! Tôi là luật sư Hà Huy Sơn, người được gia đình anh thuê để bảo vệ anh trong vụ án này.
                Qua vài câu chuyện xã giao xong, luật sư đi thẳng vào công việc. Luật sư cho biết rằng thời gian của chúng tôi được gặp nhau trao đổi là 60 phút. Với lượng thời gian như vậy. Luật sư đã chuyển lời hỏi thăm của gia đình và bạn bè tới tôi. Luật sư cũng sơ qua cho tôi biết về tình hình sức khỏe của những người thân trong gia đình tôi. Luật sư bắt đầu hỏi tôi suy nghĩ của tôi về việc mình bị bắt và truy tố. Tôi cho luật sự biết rằng tôi rất bất bình về việc bị công an Nghệ an bắt giữ trái luật. Luật sư cũng khẳng định rằng anh cũng có cùng quan điểm với tôi, anh sẽ bảo vệ tôi trước Tòa với hướng khẳng định tôi vô tội. Luật sư cũng cho tôi biết anh đã có văn thư gửi cho Tòa án yêu cầu trả tự do vô điều kiện cho tôi nhưng chưa nhận được trả lời. Luật sư hỏi thêm tôi về cuộc sống của tôi trong nhà giam trong đó có cả việc tôi có được đọc báo nghe đài theo như luật pháp quy đinh không. Tôi khẳng định rằng đã 10 tháng rồi tôi không hề được nghe đài hay đọc báo, thậm chí vào lúc đó tôi không biết được ai là Chủ tịch Quốc Hội.  Luật sư Sơn nói rằng sau buổi gặp tôi anh ấy sẽ có đơn thư đề nghị ban giám thị  trại phải đáp ứng nhu cầu chính đáng của tôi như luật định. Anh hỏi thêm tôi còn có nguyện vọng gì nữa không. Tôi cho anh biết rằng tôi rất cần có một cuốn Kinh thánh để đọc trong trại giam, nhưng đề nghị nhiều lần mà cán bộ không cho. Chia tay luật sư, tôi trở vào buồng giam, lòng vui mừng phấn khởi vì biết rằng những anh em bạn bè bên ngoài vẫn đang rất quan tâm tới mình, biết luật sư là người sẽ bảo vệ cho mình với những lý lẽ sẽ khẳng định mình vô tội. Có một thay đổi rõ rệt sau khi tôi gặp luật sư đó là: Hàng ngày Quản giáo Thành đều đưa cho tôi một số báo Nhân dân. Ông nói: Cho anh mượn xem xong là phải trả ngay cho tôi, không cho ai mượn cả. Cũng từ hôm đó cứ 5 giờ sáng là chiếc loa phóng thanh của trại được bật lên. Chương trình phát thanh của Đài  tiếng nói Việt Nam bắt đầu ngày mới bằng Thể dục buổi sáng. Tôi biết ngay rằng lời đề nghị của luật sư Sơn đã được trại giam đáp ứng phần nào, tuy nhiên về việc  tôi có Kinh thánh để đọc thì vẫn chưa được đáp ứng.  Thời gian chậm chậm trôi qua nhưng cái gì đến ắt cũng phải đến. Vào khoảng  tháng 11 năm 2011 nữ cán bộ đại diện Viện Kiểm Sát, tên là Ngân đã vào nhà giam gặp tôi., bà cho biết nếu không có gì thay đổi thì vào cuối tháng 12 Tòa án sẽ đưa vụ án của tôi và chị Khồ Thị Bích Khương ra xét xử. Bà nói: “ Tôn không nên thuê luật sư làm gì, vừa tốn tiền vừa chẳng giải quyết đượ gì đâu. Lớ ngớ luật sư mà cải căng thẳng, tòa bực lên lại xử thêm cho mấy tháng đấy. Nếu gặp gia đình thì bảo vợ đừng thuê luật sự nữa. Ra tòa có tái độ ăn năn nhận tôi, chúng tôi sẽ đề nghị tòa xử vừa mức án tạm giam và cho về luôn, hoạc xử án treo. Thấy hoàn cảnh nhà Tôn cũng khó khăn, bố mẹ già yếu, một tay vợ phải chăm sóc 3 đứa con, cùng 2 bố mẹ già, lại thêm hàng tháng lo thăm nuôi chồng nữa. Tôn nên nghĩ cho gia đình. Hãy nhận tội xin khoan hồng để sớm được về. Chắc chắn Tôn sẽ được thả ngay tại tòa. Nhớ về rồi thì đừng đi theo con Khương nữa, Khổ vợ khổ con, khổ bản thân.” Tôi trả lời: “ Bây giờ tôi bị bắt rồi, xét xử thế nào là quyền của quý vị, riêng bản thân tôi thì tôi khẳng định rằng mình chẳng làm gì nên tôi, nên tôi sẽ không nhận tội, việc thuê luật sư cho tôi là do vợ tôi quyết định. Tôi đồng ý với quyết định đó và sẽ không từ chối luật sư”. Họ đưa tôi trở lại buồng giam. Những ngày sau đó sao thời gian dường như trôi qua chậm hơn! Tôi cứ đếm từng ngày để mong sớm được đứng trước Tòa mà đưa ra những lập luận tự bào chữa cho mình.  Sáng ngày 28/12/2011 một lần nữa tôi được đưa ra cổng nhà giam để gặp Luật sư. Cũng như lần trước Luật sư và tôi có thời gian 1 giờ đồng hồ để trao đổi. Trong buổi gặp này một lần nữa cả tôi và luật sư để bảo lưu quan điểm là tôi vô tôi. Luật sư khuyên tôi nên bình tĩnh trước phiên tòa ngày mai. Nên tranh thủ cơ hội để đưa ra những lập luận của bản thân. Ngày 29 tháng 12 năm 2011, lúc kẻng báo thức vừa vang lên thì cửa buống giam cũng mở ra, một tốp công an mang theo còng số 8, dui cui điện và gậy cao su áp giải tôi về phía cổng trại. Có một chiếc xe màu trắng 6 chổ ngồi đã đợi sẳn. Họ đẫy tôi lên dãy ghế phí sau có thêm 3 nam công an nghồi kèm. Một lát sau thấy họ áp giải chị Hồ Thị Bích Khương ra xe họ đưa chị nghồi lên chiếc nghế bên cạnh tài xế, có 3 công an nữa ngồi kèm phía sau chi. Xe bắt đầu chuyển bánh, tiếng chị Hồ Thị Bích Khương sang sảng liên hồi, khi thì hát, khi thì chửi những kẻ đã bắt giam chị vô cớ. Tôi thì ngôi im lặng, mắt ngóng ra hai bên đường để tìm kiếm những khuôn mặt thân quen. Thành phố Vinh Nghệ an sau  ngày Nô-En vẫn tấp nập người qua lại, kẻ ngược người xuôi trên đường, tôi cố gắng để căng mắt nhìn ra, hy vọng trong đoàn người tấp nập đó có những tín hữu Tin Lành, hay những người tranh đâu mà tôi quen biết, nhưng chẳng thấy bóng một ai. Lòng thấy hơi buồn, nhưng tôi bình tĩnh lại suy xét và tự an ủi mình: Có lẽ những người mình trông mong đã tới nơi trước mình rồi, hoặc họ đang ở đâu đó quanh khu vực  Tòa án. Xe chạy tới công Tòa án. Tôi nhìn thấy vợ và 2 con trai của mình đang đứng trước cổng. Tôi cố gọi nhưng hình như họ không nghe. Nhưng Trong Nghĩa con trai tôi cũng đang trong tư thế ngóng chờ tôi nên cháu đã phát hiên ra tôi và dơ tay lên chào. Xe tiến sát vào cửa Tòa án. Công an áp giải chúng tôi bước xuống xe. Hàng loạt ông kính chỉa thẳng vào mặt chúng tôi quay quay chụp chụp. Chúng tôi bị đưa vào phía trong tòa án, họ dẫn chúng tôi vào chỗ của mình là một dãy ghế băng đã được chuẩn bị trước. Có một vài người mặc thường phục đợi sẳn trong hội trường nhưng chắc chắn họ không phải là nhân dân mà họ là lực lượng An ninh và các phóng viên của đảng. Mắt của tôi đão khắp hội trường, nhưng không tìm ra một khuôn mặt quên thuộc nào. Một lát sau, Luật sư Hà Huy Sơn bước vào vị trí bàn dành cho Luật sư. Tôi gọi Luật sư lại để định trao đổi thêm vài ý kiên, nhưng Công an đã ngăn cản không cho Luật sư gặp. Hội đồng xét xử bước ra, Chủ tọa phiên tòa là ông Thẩm phán Vi Văn Chắt, thêm hai vị hội thẩm và một nữ thư ký.  Phía Viện Kiểm sát có bà  Ngân (người đã vào trại giamm gặp tôi hồi tháng 11). Mắc dù thư ký phiên tòa đã đọc xong bản Cáo trạng, nhưng vẫn không thấy bóng dáng một người thân nào của cả tôi và chị Hồ Thị Bích Khương đâu cả. Luật sư Hà Huy Sơn đã phải đứng lên đề nghị Chủ tọa can thiệp để các thân nhân chúng tôi được vào tham dự. Một lát sau tôi mới thấy vợ và con trai lớn của tôi cùng chị Lan, chị Huệ là các chị gái của chị Khương vào thạm dự. Mặc dù phiên tòa được thông báo là xét xữ công khai, nhưng trong phòng xử chật cứng công an, cổng tòa bị canh gác nghiêm ngặt, những người thân chúng tôi muốn vào cũng phải xuất trình giấy tờ tùy than và có sự can thiệp của luật sư mới được vào. Trong quá trình xét hỏi. Tòa chỉ cho phép chúng tôi được trả lời có hay không chứ không được giải thích gì. Sang phần tranh tụng Tôi thẳng thắn thừa nhận tất cả nội dung các bài viết của mình là thật, nhưng không cho rằng đó là hành vị phạm tội. Chi Hồ Thị Bích Khương thì phủ nhận tất cả những bài viết mà tòa đưa ra buộc tội chi. Chi cho rằng chính Công an đã hảm hại chị bằng cách thêm thắt nội dung, và ngụy tạo bằng chứng vu cáo chị.  Một vị Hội thâm đứng lên giải thích rằng: Bị cáo Tôn có biết điều 4 hiên pháp quy định “ Đảng Cộng sản Việt Nam  là  lượng tiên phong của giai cấp Công nhân và nhân dân lao động, Đảng là lược lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước….? Bị cáo có những bài viết chống lại Đảng Cộng sản, tức là bị cáo đã chống lại nhà nức CHXHCN Việt nam. Ông ta chưa  dứt lời thì luật sư Hà Huy Sơn đứng lên  xin phép chủ tọa cắt lời. Luật sư Sơn đã khẳng định vị Hội thâm vi phạm luật tố tụng hình sự, vì ông đã đưa đảng Công sản là một phạm trù không hề liên quan tới tội danh mà chúng tôi bị truy tố. Tòa án Truy tố chúng tôi tội danh Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN, chứ đâu có phải tối tuyên truyền chống đảng Cộng sản, nên việc đưa điều 4 Hiến pháp và Cộng sản ra tranh tụng trong phiên tòa này là hoàn toàn vi phạm luật tô tụng hình sự. Trước phản ứng của Luật sư, hội trường tòa án bỗng nhiên im lặng hẳn lại , Hội đồng xét xử bối rối, nhưng sau khoảng chừng 1 phút Chủ Tọa Vi Văn Chắt đứng lên tuyên bố: Phát biểu vừa rồi chỉ là ý kiên của cá nhân vị Hội Thẩm, không phải là ý kiên chung của Hội đồng xét xử. Phiên tòa vẫn tiếp tục diễn ra trong không khi ngột ngạt, áp đảo. Mặc dù những lý lẽ mà luât sư đưa ra căn cứ trên luật pháp thì hoàn toàn thuyết phục, nhưng cuối cùng thì bản án vẫn được tuyên theo đề nghị của phía Viện kiểm sát. Theo  Viện Kiểm sát đề nghị Tòa xử tôi mức án từ 18 tới 24 tháng tù giam và chị Hồ Thị Bich Khương Từ 60 tới 72 tháng tù giam. Sau 10 phút Nghị  án. Tòa đã đưa phán quyết, xử tôi 24 tháng tù giam và 24 tháng quản chế. Chị Hồ Thị Bích Khương 60 tháng tù giam và 36 tháng quản chế.
                Mặc dù kết quả của phiên tòa đã không như mong muốn, nhưng cũng nắm trong dự đoán nên không có gì làm tôi ngạc nhiên. Bới dưới chế độ này làm gì có Công lý. Nếu có công lý thì chúng tôi đã không phải đấu tranh. Họ lại đưa chúng tôi lên xe chở về trại giam với chiếc cồng số 8 trên tay. Chúng tôi bỏ lại phía sau lưng mình những  nhộn nhịp của chốn thị thành. Xe đưa chúng tôi về trại giam. Bắt đầu từ hôm đó tôi bị đưa vào nhà B1, khu nhà giam dữ những người bị kết án tử hình, nơi còng chân những bị can bị kỷ luật; tuy vậy cũng có một số buồng giam những bị cáo đang chờ bản án có hiệu lực để bị phân đi thì hành án.
Thanh Hóa ngày 20/09/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 21: Những Tháng Ngày Đáng Nhớ.
Xe chở chúng tôi từ Tòa án về tới trại giam thì đã khoảng 12h trưa. Trực trại Lê Tuấn Anh dẫn tôi vào nhà B1 trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ an. Vừa dẫn tôi đi cán bộ Lê Tuấn Anh vừa nói: Tôi bố trí cho anh vào nhà B1, là khu nhà giam lẻ để anh sống thoải mái hơn, chứ vào nhà chung đông người, mà phức tạp lắm. Vào buồng giam lẻ, ít người, anh lựa sống sao cho tốt, cố gắng lên, anh còn hơn 1 năm nữa giữ sức khỏe mà về. Tôi nói: Cám ơn cán bộ đã quan tâm, tôi sẽ biết phải sống thế nào cho phù hợp trong môi trường này. Trên đường đi vào chúng tôi gặp quản giáo tên Tiến, có biệt danh “Tiến gà chọi” vì người này có đôi mắt và khuôn mặt lúc nào cũng đỏ. Bước vào khu nhà B1, một dãy nhà cấp 4 củ kỉ ẩm thấp, gồm 11 buồng giam. Thấy các cửa đóng kín mít, không một tiếng ồn, tôi nghĩ rằng bên trong không có người! Đi qua buồng thứ nhất, buồng thứ 2, tôi thấy trên của buồng có ghi dòng chữ: Buồng giàm tù nhận án tử hình. Rồi buồng 3 tới buồng 7 cán bộ Tuấn Anh dừng lại ở buồng 8. Quản giáo Tiến đưa chìa khóa mở cửa bảo tôi vào trong. Cửa buồng vừa mở ra từ trong buồng giam bốc mùi khét của khói nhựa cháy. Quảng giáo Tiến dặn với vào trong.: “Thành Ổi bố trí chổ cho Nguyễn Trung Tôn nằm nhé!”.  Tôi bức vào tròng. Cánh cửa chưa đóng lại thì trực trại Lê Tuấn Anh ló đầu vào nói: Đun nấu gì mà khét thê? Trực trại nói: “Anh Thành ra tôi gặp chút”. Không biết Trực trại dặn gì đó với anh Thành về tôi. Cánh cửa đóng lại anh Thành, còn gọi là Thành ổi bảo tôi ngồi lên bục. họ lại tiếp tục bật lửa, đốt nhựa để đun tiếp mấy con cá đang đun dỡ. Xong việc họ dọn cơm và bảo tôi ngồi ăn luôn, nhưng tôi nói rằng tôi đang mệt không muốn ăn. Buồng giam ở khu nhà B1 này rất chật.  Chỉ khoảng  6m vung mà khi tôi vào buồng đã có 4 người, mấy ngày sau lại còn thêm 1 người nữa là 6 người. Buồng được bố trí một bục nằm bằng Xy măng. Nằm  tráo trở  thì được 4 người, là chật cứng không có chổ cựa, trền đầu bục có gắn một cái còng chân để còng xiềng chân những ai bị kỷ luật. phía trong bục nằm là nột bể nước nhỏ rộng khoảng 1m vung cao khoảng 0,5m. Từ cửa bước vào là lối đi” Xa lô” cũng là chỗ nằm. Nắm tráo trở được 2 người. cuối “Xa lộ” là hố vệ sinh, được xây ngăn một bức tường lững. nên nếu muốn đi vệ sinh thì phải bước lên bục nằm mới bức xuống hố vệ sinh được. Bởi thế ban đêm khi mọi người đi ngủ thì không thể đi vệ sinh được, nếu đi như vậy sẽ làm người ngủ dưới lối đi tỉnh dấc. Vì thế tôi bịết mình  bệnh Thận nên  xin được nằm ngay gần hố vệ sinh để đêm có thể đi tiểu mà không làm ảnh hưởng tới anh em. Buồng giam mà tôi được bố trí vào ở, toàn là những người đã đi tù ít nhất là lần thứ 2, có người đã đi lần thứ 4, chỉ có mình tôi là lần đầu, họ người trong buồng đã có đầy những kinh nghiệm ở tù. “Văn tù” của họ cũng rất khá. Không ai thủ tục tôi cả, anh Thành Ổi nói rằng Trực trại Lê Tuấn Anh đã dặn dò rằng quan tâm và đối xử tốt với tôi. Vậy nên ngay khi nhập buồng tôi đã có thể sinh hoạt tự do như tất cả các thành viên củ. Buồng giam tuy chật chội nhưng không khí thì cũng rất vui vẻ . Tôi nào cũng vậy. buồng chúng tôi dung chai nhựa đùn nước sôi pha chè uống. Trong buồng cũng có khá nhiều Thuốc lào, nên họ vê thuốc hút, uống nước chè và tán gẫu. Anh Thành và anh Thạch, họ hơn tôi một tuổi, cả hai đều là người thành phố Vinh Nghệ an. Có một cậu Trung ở Hà Nội, một người tên Quang ở  Anh Sơn Nghệ an, môt người tên Quyền ở Nghĩa đàn Nghệ an. Tối lại họ hay bảo tôi kể chuyện lịch sử, chuyện Kinh thánh. Tôi đã tận dụng vốn liếng kiến thức ít ỏi của mình để kể cho họ nghe nhưng câu chuyện mà tôi đã đọc được từ Kinh Thánh hay trên Internet
          Vào buồng được 2 ngày tôi đã xin ra ngoài gặp quản giáo Tiến để viết đơn kháng cáo. Tôi sống trong buồng  đó được 15 ngày, vừa hết thời gian kháng án, cũng là lúc lệnh tạm giam của Tòa án Nghệ an đối với tôi đã hết hạn, nếu muốn giam giữ tôi tiếp thì Tòa án Tối cao phải có lệnh tạm giam. Tôi đề nghị quản giáo thả tôi ra khỏi buồng giàm, vì lý do bản án sơ thẩm không có hiệu lực, vì tôi đã kháng án, mà lệnh tạm giam đã hết hạn. Vậy không còn lý do gì quản giáo Tiền có quyền giam giữ tôi. Tôi hỏi cán bộ: Cán bộ căn cứ vào quyết định nào mà giam giữ tôi? Cán bộ Tiến trả lời: Tôi chỉ biết làm theo mệnh lệnh, nếu anh có thắc mắc, để tôi xin ý kiến của Ban Giám Thị. Chiều tới; cán bộ Tiến gọi tôi ra ngoài gặp và nói:: Bản án sơ thẩm của Tòa án đối với anh bây giờ chưa có hiệu lực, lệnh tạm giam đối với anh đã hết, nhưng cơ quan thụ lý anh bây giờ là Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Tối cao ở Hà Nội. Hiện nay họ chưa gửi kịp lệnh tạm giam vào vì lý do địa lý. Họ sẽ gửi lện vào ngay, khi nào nhận đươc trại giam có trách nhiệm đưa cho anh. Anh hay bình tĩnh chờ đợi, đừng làm căng thẳng. Tôi trả lời: Tôi không muốn làm gì căng thẳng, nhưng tôi không thể chấp nhận việc trại giam giam giữ tôi mà không có lệnh tạm giam hay quyết định nào của Tòa án. Tôi sẽ quyết định tuyệt thực nếu như cán bộ không thả tôi ra hoạc đưa cho tôi xem lệnh tạm giam. Mắt đã đỏ lại đỏ thêm, Quản giáo Tiến lớn tiếng: “ Anh thích căng thẳng thì tôi chiều anh thôi! Anh về buồng gấp tư trang!” Tôi trở về buồng gấp quần áo chăn màn.( Tôi có một thùng Mì tôm Hảo Hảo và 50 gói lương khô do vợ tôi gửi vào và một tờ lưu ký 500.000 đồng đã mua hết đồ dùng, thức ăn để tại buồng  8, nhưng khi chuyển không được mang theo. Quản giáo Tiến tới đưa tôi vào buồng số 2 của nhà giam, là buồng giam  những phạm nhân tử hình.  Quản giáo nói: “ Anh ở đây tôi sẽ đi báo với phòng hồ sơ xem họ giải thich thế nào, nhưng anh cứ phải xác định rằng không ai thả anh ra bây giờ. Tôi bức vào buồng giam số 2, Nơi mà chỉ cách đó 1 hôm có một tử tù nào đó mới bị đưa đi hành quyết.  Bục nằm vãn còn nóng, trên chiếc xingf chân vẫn còn dấu máu và mồ hôi của người tù sấu số. Buồng giam tuy chật hẹp so với chổ ở bên ngoài nhưng đối với tôi thì là rất rộng rãi vì một mình một buồng, với 2 bục năm, 1 bể nước và 1 hố vệ sinh. Tôi ở đó một mình buồn vô tận, nhưng cũng thấy vui vì tôi thoải mái cầu nguyện với Chúa của mình, mặc dù trên đầu vẫn có một Camera theo dõi ngày đêm. Tôi chính thức tuyệt thực từ hôm đó, tức là ngày 15 tháng 1 năm 2012. Được khoảng 3 ngày, có cán bộ quản lý hồ sơ vào gặp tôi và giải thích: “ Anh Tôn ạ! Chúng tôi đã kiểm tra hô sơ của anh và biết chính xác lệnh tạm giam củ của anh đã hết hạn vào ngày 12 tháng 1 năm 2011. Nhưng anh thông cảm, vì ngày 02 tháng 1 anh mới làm đơn kháng án, nên có thể Tòa tối cáo nhận đơn còn xem xét, sau đó mới ra lệnh tạm giam đối với anh, vì lý do cách trở nên lệnh tạm giam tới chậm. Tôi khuyên anh nên ăn trở lại, vì nếu anh không ăn gì thì chỉ khổ cho anh thôi!” Tôi nói rằng: Tôi không đồng ý việc trại giam giam giữ tôi mà không có lênh tạm giam. Tôi sẽ tiếp tục tuyệt thực cho tới khi nào trại giam đưa ra được lý do cụ thể về việc giam giữ tôi.” Tôi bi đưa trở lại buồng giam, một lát sau, cửa buồng giam mở ra, Quản giáo dẫn 2 người tù khác vào ở cùng tôi. Bắt đầu từ hôm đó tôi bị 2 người tù này uy hiếp, nguyền rủa đủ điều. Khi tới bữa ăn, quản giáo sai người đưa cơm và đồ ăn ngon tới cho 2 người này ăn trước mặt tôi. Có Thêm 1 công an vũ trang đứng canh cho 2 người tù kia ăn, những gì họ ăn không hết thì bắt mang đổ vào hố vệ sinh. Tối lại 2 người kia không ngừng những lời miệt thị tôi. Buổi sáng quản giáo lại gọi người tù tên là Hùng ra ngoài hỏi han dặn dò gì đó. Thời gian dài đằng đẳng cứ chầm chậm trôi. Tết nguyên đán gần về. Tôi mới nhận được lệnh tạm giam của Tòa án nhân dân tối cao do bà Đào Thị Nga ký. Sau  một thời gian nhịn ăn, chịu bao nhiêu áp lực, cuối cùng tôi chấp nhận ăn trở lại vì lý do đã có lệnh tạm giam, nhưng thú thật mà nói nếu lệnh tam giam kia không vào thì tôi cũng sắp phải đầu hàng tuyệt thực, vì 3 lý do:
Thứ 1: Tôi không được gặp người thân nên bên ngoài không ai biết tôi đang tuyệt thực, nếu tôi có chết trong tù cũng chẳng giải quyế được gì, việc tuyệt thực của tôi sẽ không mang lại giá trị đáng kể.
Thứ 2: Áp lực của sự nguyền rủa từ 2 phạm nhân cùng buồng, làm tôi vô cùng  khổ sở.
 Thứ 3 là vì ngày tết đã gần kề, tôi không muốn mình bắt đầu năm mới bằng việc nhịn ăn. Tôi quyết định ăn trở lại. Quản giáo Tiến gọi tôi ra và yêu cầu tôi ký vào một biên bản thừa nhận tôi đã ăn trở lại. Những căng thẳng trong buồng giam cũng xuống. Một người tù hôm trước được chuyển tới ở cùng tôi, chắc đã làm xong “nhiệm vụ” nên được đưa đi nới khác. Buồng giam số 2 còn lại 2 người mấy hôm sau quản giáo đưa thêm 2 người nữa tới ở cùng. Cả buồng giam 4 người nhưng tết đến chỉ mình tôi nhận được 300.000 đồng tiền lưu ký. Chúng tôi phải chia ra để mua thêm mắm muối, dùng trong mấy ngày tết.
          Chiều 30 tết ngồi ngắm bầu trời bị mây đen vây kín, những cơn mưa cuối đông làm lòng tôi thêm giá lạnh. Tâm trạng buồn bả vô cùng, tôi đã làm mấy câu thơ để tự an ủi chính mình với tựa đề:
Tiếng gọi của nàng xuân
Lác đác mưa bay sáng tới chiều
Đông tàn xơ xác cảnh đìu hiu
Nhìn qua song sắt trời u ám
Nghe tiếng xuân sang gõ cửa lòng
Tết đến trong tù, vui chi tết
Xuân về trong ngục, đón chi xuân
Lòng ta đang đợi mùa xuân lớn
Xuân của Tự Do, của đa nguyên
Chiều ba mươi tết còn trong ngục
Buồn vì dân tộc mất tự do
Trong tim vẫn tràn đầy tin tưởng
Một ngày dân chủ sẽ thành công
Giờ ta bó gối ngồi trong ngục
Mà lòng giá lạnh tựa tuyết đông
Bên tai, tiếng ngàn xuân hứa hẹn
Nắng vàng dân chủ nở muôn hoa.
       Cuộc đời là vậy! Mỗi người chúng ta được sinh ra trên đời này đều có những lúc vui lúc buồn, lúc thành lúc bại, nhưng chắc chắn một điều rằng, tất cả chúng ta đều có thể là nhân tố quan trọng để làm nên lịch sử. Tương lai đang vẫy gọi tất cả chúng ta. Tôi tự động viên mình hãy mạnh mẽ lên, đừng bao giờ bỏ cuộc vì biết rằng trên vai mình đang mang một xứ mạng quan trọng nặng nề nhưng đầy ắp niềm vui.
Thanh hóa ngày 24/9/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 22): Tết đến làm chi nhục kiếp tù!
Khoảng 23h đêm 30 tết nguyên đán năm 2011, tức vào khoảng tháng 2 năm 2012, giám thị trưởng và một số cán bộ trại giam đi chúc tết các tử tù đang bị giam ở các buồng trọng án bên cạnh buồng mà tôi bị giam. Qua bức tường tôi nghe loáng thoáng những lời động viên của giám thị trưởng đối với các tử tù đang chờ ngày bị đưa ra hành quyết. Một lát sau, tiếng chìa khóa lẻng xẻng tiến gần lại phía buồng giam tôi đang bị giam giữ. Giám thị trưởng và mấy viên công an vũ trang bước vào “chuồng cọp”. Giám thị trưởng cất tiếng hỏi: Ai là Nguyễn Trung Tôn?
Tôi lên tiếng: Dạ thưa cán bộ là tôi ạ!
Giám thị trưởng tên là Long nói: “Nhân dịp năm mới gần về, tôi thay mặt Ban giám thị và Hội đồng cán bộ, chúc anh cùng những phạm nhân trong buồng, vui vẻ, an tâm tư tưởng, chấp hành nghiêm túc kỷ luật trại giam, sớm nhận được sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Hội đồng cán bộ có chút quà gửi tới anh và anh em trong buồng. (Miệng nói tay đưa cho tôi một túi kẹo, khoảng 50 cái, với nhiều loại kẹo). Theo phép lịch sự; tôi cũng chúc lại Ban giám thị và Hội đồng cán bộ luôn mạnh khỏe và quan tâm hơn nữa tới đời sống các Tù nhân. Cánh cửa buồng giam nhanh chóng đóng lại. Trong buồng giam tối đen như mực, chiếc Camera giám sát vẫn không ngừng hoạt động. Bốn tù nhân chúng tôi cùng nhau ngồi ăn kẹo với những lời chúc sức khỏe lẫn nhau. Khoảng 30 phút sau; nghe tiếng người nói rì rầm, tiếng chìa khóa kêu lẻng xẻng từ phía cổng trại tiến vào nhà giam. Cánh cửa buồng 3 bên cạnh mở ra; tôi nghe tiếng quản giáo Tiến và một vài người nữa chúc tết bên buồng giam số 3. Có tiếng đáp lại của tù nhân bên buồng đó. Mùi khói thuốc lá thơm thoang thoảng bay sang buồng chúng tôi. Khoảng 5 phút sau tốp cán bộ đóng cửa buồng 3 rồi lần lượt tới các buồng tiếp theo cho tới buồng 11.
Gần tới Giao thừa nghe tiếng gõ xô nhựa thay cho tiếng trống hòa nhạc xen lẫn tiếng hát của các tù nhân buồng 3 vang lên. (Họ đang cùng nhau hát mừng xuân mới). Bỗng dưng nghe tiếng bước chân rầm rập, tiếng chia khóa lẻng xẻng gấp gáp tiến về phía buồng 3. Cánh cửa buồng 3 mở ra. Chúng tôi nghe tiếng gầm của Công an, tiếng gậy cao su đập vào lưng tù uỳnh uỵch, tiếng van xin của các tù nhân từ buồng 3 vọng sang. Thì ra nhóm công an trại giam đã ngà ngà rượu trong bữa tiệc liên hoan cuối năm, phải kiềm nén trong mình điều gì đó, giờ có cơ hội xả hơi khi nghe tiếng gõ thùng và tiếng hát của các tù nhân trong buồng 3. Họ đập liên hồi vào mông, vào lưng những người tù khổ sở bằng gậy Cao su và roi “Thánh gióng”. Miệng họ gầm thét lên: Chúng mày định làm loạn trại giam hả? Sao chúng mày dám gõ xô và hò hát gây mất trật tự? Chúng mày không còn xem ai ra gì sao? Uỵch uỵch, bộp bộp, tiếng gậy đập vào mông người thay cho tiếng pháo giao thừa, xen lẫn tiếng van xin của những người tù bên cạnh như muốn xé nát màn đềm tăm tôi chốn ngục tù. Sau khi tham dự xong “Bữa tiêc trên lưng tù”; những viên công an đó đóng cửa rút đi và không quên để lại lời răn đe: Nếu chúng mày còn gây ồn nữa thì sáng mai sẽ cho chúng mày vào nằm xiềng ăn tết.
Thương cho những người tù bên cạnh, phải đón tết với trận đòn tím bầm da thịt. Tôi lấy tay đấm vào bức ngăn cách báo hiệu với họ rằng tôi muốn hỏi thăm và chia sẻ nỗi đau cùng họ. Các nạn nhân buồng bên nói vọng sang trong đau đớn: Đau lắm anh ạ! Mỗi thằng chịu hàng chục gậy Cao su và năm sáu roi “Thánh gióng”. Vậy là Bây giờ bọn em không thể ngồi lên được, những vết đòn rớm máu thế này không biết khi nào mới khỏi!? Tiếng súng nổ tiếng loa đài, tiếng chúc tết của Chủ tịch nước vang lên, át đi tiếng rên xiết trong đau đớn của những kiếp người trong lao ngục. Tôi chợt nhớ tới gia đình gia giết. Không biết giờ này bố mẹ và vợ con tôi có đang khóc vì nhớ tôi không, chắc họ nhớ thương tôi lắm!? Làm sao họ có thể đón một năm mới an lành được, khi mà xung quanh họ vẫn ngổn ngang những điều ngang trái? Màn đêm dày đặc bao phủ buồng giam, không ai có thể nhìn thấy những giọt nước mắt của người xung quanh mình đang lăn dài trên gò má, nhưng vẫn có thể cảm nhận được điều đó bằng chính trái tim còn rộn ràng nhịp đập. Tôi thốt lên vài lời than thở:
Tết đến làm chi ở lào tù?
Để ta thêm nỗi nhớ quê hương.
Buồng bên mấy người vừa bị đánh.
Máu chảy lằn roi, tái tê lòng.
Cơm ngày 2 bữa ăn chưa đủ.
Tết đến làm chi nhục kiếp tù!

Thanh hóa ngày 3/10/2014
Nguyễn Trung Tôn
Kỳ 23
Chuyển nhà giàm - gặp người bạn tù Lê Văn Nhung.
Sáng ngày 8 tháng 3 năm 2012 cửa buồng giam vừa mở, chúng tôi nhận được lệnh chuẩn bị hành lý để chuyển nhà giam. Tôi cùng với các tù nhân khẩn trương thu xếp hành lý cá nhân bao gồm, quần áo, chăn màn và xô chậu đựng nước và bát thia ca cốc. Mỗi người chúng tôi ôm một ôm vừa nhẹ là hết. Chúng tôi được vị quản giáo Nguyễn Văn Thành tức (Thành cao) dẫn đi, vì quản giáo Thành là quản giáo củ của tôi nên có vẻ gần gủi tôi hơn, vừa đi quan giáo vừa hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi, qua câu chuyện quản giáo Thành cho tôi biết rằng chị Hồ Thị Bích Khương lại vừa bị trại giam ký quyết định kỷ luật vì có thái độ vô lễ với quảng giáo. Tôi cũng trò chuyện với ông rất bình thường, quản giáo Thành dẫn chúng tôi đi vòng qua trước nhà B2 rẽ sang khu nhà C, đi qua nhà C1 và dừng lại trước nhà C2. (Một dãy nhà giam cũ kỹ, lâu không giam giữ nên mốc rêu xanh). Quản giáo mở buồng giam số 1 bảo tôi cùng 2 phạm nhân nữa bước vào rồi khóa cửa lại. Quản giáo nói: Các anh cứ vào đây cán bộ Thế sẽ là người trực tiếp quản lý các anh. Cán bộ Trần Đình Thế là một người còn khá trẻ hình như người này cũng mới ra trường, còn mang hàm thiếu úy, trước đây vài lần cán bộ này thỉnh thoảng trực thay cho quản giáo Tiến nên cũng biết tên tôi từ trước. Khi tới nhận nhiệm vụ quản lý nhà giam C2, cán bộ Thế giao cho chúng tôi tự dọn dẹp buồng giam cho sạch sẽ. Trong buồng có 3 người, tôi và cậu Hùng người Diễn Thành Diễn Châu, anh Hồ Sỹ Toàn người Đồ Thành Yên Thành. Chúng tôi bắt đầu quét dọn căn phòng nhỏ, hai bục xy măng là giường nằm của chúng tôi, chúng tôi dùng dẻ rách cọ những rêu mốc trên tường, thau rửa bể nước và hố vệ sinh. Anh Hồ Sỹ Toàn là một tù nhân bị nhiễm HIV nên anh chỉ hơn tôi khoảng 10 tuổi nhưng nhìn anh như một ông cụ 70, chúng tôi để cho anh nghĩ. Vài ngày sau chúng tôi đón thêm một tù nhân khác, dáng vóc cao to cứng cáp; cậu ấy tên là Lê Văn Nhung, người Nghĩa Đàn. Nhung vừa bước vào buồng khúm na khúm núm vẻ rất thiếu tự nhiên. Cửa buồng vừa đóng lại Hùng quát Nhung ngồi tựa lưng vào tường, dơ gót chân tặng liên tiếp ba bốn cái vào ngực của Nhung, Nhung nhăn mặt cố chịu đựng. Tôi can Hùng lại không cho đánh Nhung nữa. Hùng dừng không tiếp tục đánh nữa nhưng lớn tiếng quát nạt, uy hiếp đe dọa mà theo Hùng là đang “dạy dỗ” để Nhung sống cho biết điều. Bữa tối ăn xong, buồng giam đóng kiến hai lần cửa. Màn đêm lại dần buông xuống, qua ke cửa buồng giam, một tia sáng của bóng đèn điện trại giam hắt vào cũng là luồng ánh sáng duy nhất để chúng tôi có thể phát hiện được lôi đi vệ sinh. Như thường lệ mấy buồng giam gần nhau lại í ới gọi qua gọi lại xin nhau thuốc lào, hay xin lửa, những cục dẻ cuộn tròn buộc chặt được nối dây dài lại bình bịnh vượt qua những bức tường phân cách, nhãy qua những khoảng bê tông, mang thuốc, mang lửa đi từ buồng này sang buồng khác. Tối hôm đó qua câu chuyện của Nhung kể lại tôi biết được Nhung là người dân tộc Thổ làm nghề thợ xây, thường thì Nhung hay theo người làng đi làm ở Đà Nẵng và một số tỉnh phía nam, Nhung sinh năm 1974 lây vợ khá sớm cậu có 2 đưa con trai, một sinh năm 1992 và một sinh năm 1993 cả 2 đưa con đều vào Nam làm ăn. Vào khoảng cuối năm 2011 do vợ  bị ốm, Nhung phải nghĩ làm quay về nhà chăm lo cho vợ. Khi bệnh tình của vợ đã tạm ổn định, Nhung muốn tiếp tục vào Đà Nẵng để theo nghề thợ hồ, nhưng không có tiền lộ phí, mà nếu cứ ở nhà cũng chẳng biết lấy gì sinh hoạt. Vốn dĩ trước đây có thời ký Nhung đã từng làm thợ điện của thôn nên có chút kinh nghiệm tháo lắp các thiết bị điện. Một hôm nhìn thấy đường điện của làng bên có các đồng hồ đo điện (Công tơ đo đếm) treo rất sơ sài, Nhung nãy ra ý định trộm số đồng hồ đo điện bán để lấy tiền làm lộ phí đi Đà Nẵng. Tối hôm đó Nhung quyết định một mình cầm theo chiếc kiềm cách điện, tháo trộm được 9 cái mang đi bán cho cửa hang phế liệu được giá 20.000đ một cái tổng cộng là 180.000đ. Với số tiền 180.000 đủ để Nhung lên đường vào Đà Nẵng. Nhung mới vào làm chưa đầy tuần thì nghe vợ gọi điện báo Nhung phải về ngay vì có giấy gọi của Công an, Nhung hoảng hốt sợ hãi, ứng tiền công quay về nhà. Về vừa tới nhà thì Nhung bị công an bắt đưa về công an huyện Nghĩa đàn giam tại đó. Nhung kể: Em rất thành khẩn khai báo về việc em ăn trộm số công tờ đó ra sao, nhưng em  vẫn bị công an  điều tra đánh đập rất đau, họ hỏi em về nhiều vụ trộm khác mà em không hề biết họ cứ cố gán ghép cho em, họ tra tân liên tục nhiều ngày nhưng em chẳng hề biết gì rồi họ mới thôi. Ăn tết xong thì tòa án đưa Nhung ra xét xử tội danh trộm cắp tài sản. Nhung bị kết án 9 tháng tù giam và phải đền bù 9 chiếc đồng hồ đó điện với giá 400.000 một chiếc. Nhung kể: Em không nghĩ rằng chỉ có 9 cái công tơ mà em phải ngồi tù như thế này, thật em dại quá anh ạ. Chỉ vì nghèo thiếu nên sinh ra trộm cặp chịu cảnh tù tội. Hôm ra tòa em lại nhận được tin động trời, thằng con trai lớn của em từ trong nam về ăn tết. Hôm mùng 4 tết bạn gái nói tới nhà chơi, khi bạn gái về nó lại mượn xe máy hàng xóm đèo bạn ra ngã ba Yên Lý bắt xe. Bạn gái lên xe xong nó lại phóng xe đi đâu không rõ nhưng ngang qua đường tàu nó bị tàu hỏa cán đứt đôi người, xe máy cũng tan tành luôn, vậy là bây giờ nhà em khổ lắm anh ạ. Bố thì tù tội con thì chết, tài sản lại phải đền bù cho hàng xóm. Nhung vừa nói vừa mếu máo ngẹn ngào. Tôi nghe Nhung kể cũng thấy thương Nhung tôi đồng cảm với những hoạn nạn mà gia định cậu đang phải trãi qua. Tôi nói với Nhung: Anh nghe chú kể anh thấy rất thương cho chú, nhưng anh không hiểu sao chú lại có những hành động ngu xuẩn điên dại vậy? Chỉ có không đầy 2 trăm ngàn bạc sao chú không đi vạy mượn bà con xóm riềng làm kinh phí đi lại mà lại nghĩ ra cái trò trộm cắp xấu xa như vậy? Nhung nói: Nhà em nghèo quá anh ạ, đi vay đâu có dễ, mà khi vợ ốm em đã vay mượn nhiều nơi, bây giờ chưa có trả thì biết vay ai được nên em mới liều làm bậy thành ra khổ đời em. Vài ngày sau. khi mới mở cưa buồng giam xong quản giáo Trần Đình Thế cho gọi Nhung ra. Một lúc lâu thấy Nhung quay về buồng và cho biết rằng hôm đó là 49 ngày con trai của Nhung. Do hôm mới nhập trại Nhung có trình bầy với cán bộ về việc con trai mới bị tai nạn nên hôm nay cán bộ nhớ ngày, mua vào cho Nhung mấy gói kéo, một bó hương nho nhỏ. Cán bộ  dẫn Nhung xuống buồng giam số 10 (buông giam chưa có phạm ở) mở buồng giam và cho Nhung vào đó đặt mấy gói bánh kẹo lên bục nằm, thắp mấy nén nhang khấn vọng vong hồn con trai cho đỡ tư tưởng. Nhung nói: Dù rằng biết có thể vong hồn con của em không về đây được, nhưng em cũng thấy ngui ngoài trong lòng được một chút anh ạ! Việc làm của cán bộ Thế khiến em rất thấy tôn trọng. Ngày tháng cứ dần trôi, Lần lượt Anh Toàn, rồi cậu Hùng cũng tới ngày đi trại mới, buồng giam chúng tôi lại tiếp nhận them các tù nhân khác, mỗi người một tôi danh, mỗi người một hoàn cảnh, một cá tính, nhưng dừng như nhưng người sống cùng buồng với tôi ai cũng để lại trong tôi những kỷ niệm đáng nhớ với những câu chuyện đời tư của họ. Suốt 2 tháng ở nhà chờ C2 Nhung ở cùng buồng giam với tôi, đôi khi Nhung bị người này người khác trong buồng bắt nạt, vì Nhung không có tiền lưu ký, Nhung ăn thức ăn chúng với chúng tôi. Tôi cũng tranh thủ thời gian chia sẽ cho Nhung về niêm tin nơi Thiên Chúa, tôi kêu gọi Nhung an năn tội lỗi tiếp nhận Thiên Chúa. Trước khi chuyển đi trại khoảng 1 tháng, Nhung bằng lòng tiếp nhận Chúa. Hằng ngày tôi hướng dẫn giáo lý cho Nhung và một người anh em khác nữa, Tôi làm phép Báp Têm cho Nhung ngay trong buồng giam, trước sự chứng kiến của các tù nhân khác và trước sự hiện diện siêu nhiên của 3 ngôi Thiên Chúa. Nhung tiếp thu rất chậm, nhưng được cái rất hay hỏi tôi những gì chưa hiểu. Vì cách dạy và học của chúng tôi là phương pháp truyền miệng, nên chắc nhớ cũng được lâu. Khi chuyển trại Nhung ôm lấy tôi để chào tạm biệt, Nhung xem tôi như một người anh. Nhung hứa rằng khi ra tù sẽ tìm cách liên lạc với gia đình tôi và ghé thăm tôi. Quả nhiên Nhung hết án trước tôi, khi mới ra trại cậu đã gọi điện cho vợ tôi để hỏi thăm gia đình. Khi tôi ra tù được ít hôm Nhung cũng gọi điện chúc mừng. Từ đó anh em thường xuyên gọi điện cho nhau, tôi thường chia sẽ them cho Nhung về Thiên Chúa, kêu gọi Nhung tìm tới một hội thánh nào đó để sinh hoạt. Sau khi tôi đánh mất chiếc điện thoại củ có lưu số của Nhung tới giờ tôi không có số để gọi cho Nhung nữa, mà cũng chẳng thấy cậu ấy gọi cho tôi. Không biết giờ này Nhung và gia đình có khỏe không, cuộc sống kinh tế ra sao, tôi hy vọng sẽ có ngày gặp lại em, đặc biệt mong em đặt trọn niềm tin nơi Chúa, từ bỏ hẳn những hành vi trộm cắp xấu xa.

Thanh hóa ngày 6/4/2016

Nguyễn Trung Tôn

ĐT: 01628387716
Kỳ 24 - Khi nào "cách mạng" thành công hãy nhớ tới tôi.
Thời gian cứ chậm chạp trôi qua theo quy luật muôn đời. Trại giam như những chuyến xe buýt cử kẻ đi thì người lại đến. Một buổi chiều đầu xuân, tiết trời còn se lạnh. Quản giáo mở cửa buồng giam số 1 và đưa vào buồng một tù nhân tóc bạc trắng nhưng tuổi chỉ mới ngoài năm mươi. Anh này tên là Quang Văn Xuân người ở huyện Tương Dương tỉnh Nghệ an. Anh nguyên là chủ tịch của một xã vùng cao. Anh làm chủ tịch xã nhưng lại nghiện Ma túy rất nặng nên sau đó anh bị mất tiến nhiệm và cho về nghĩ sớm một lần. Kể từ khi thôi làm chủ tịch xã anh đã lao vào con đường buôn bán Ma túy để có tiền sử dụng thuốc hàng ngày. Anh thường lấy thuốc từ Tương dương mang về Thành phố Vinh để bán và rồi anh đã bị bắt đưa vào trại giam. Một vài ngày sau buồng chúng tôi lại đón một người khác nguyên là công an viên của một xã thuộc huyện Con Cuông, cậu tên là Lương Văn Còi  nguyên nhân mà cậu phải vào tù thì lại rất trớ trêu. Theo như cậu kể lại thì vào một đêm trước tết nguyên đán năm năm 2012. Cậu và một người dân quân tự về đi tuần về tới gần nhà thì nghe có tiếng kêu cứu ở nhà bên cạnh, mà gia đình này lại là gia đình dì của cậu Còi. Còi  và người dân quân đi cùng vội chạy vào tiếp cứu, khi vào tới nơi trước mắt họ là hai người mặc quần áo dân sự đang đè một cậu thanh niên là con chủ nhà ra để làm gì đó, trong khi nhà chỉ có mình cậu này ở nhà. Theo phản ứng tự nhiên, Coi dùng gạy vụt mạnh vào đầu của một người, người còn lại cũng bị cậu dân quân đi cùng đánh vào chân. bị đánh bất ngờ, cả hai người lạ mặt kia buông tay khỏi cậu thanh niên. Thừa cơ hội, cậu thanh niên kia vùng chạy mất. Lúc này hai người lạ mặt mới rút thẻ công an ra và nói " Chúng tôi là công an huyện Tương Dương, chúng tôi đang thi hành nhiệm vụ, bắt người có lệnh truy nã" Cói nói: Tôi không biết các anh là ai, nếu là công an thì khi tới địa bàn này các anh phải thông qua chúng tôi. Các anh không làm vậy thì chưa hẳn các anh đã là công an. Còi và người dân quân tiếp tục tấn công hai người lạ mặt định khống chế đưa về công an xã để giải quyết, nhưng không được, vì họ đã gọi công an huyện Tương Dương và Con Cuông tới tiếp cứu. Còi biết đã đánh nhầm phải công an cấp cao hơn nên bỏ về nhà đi ngủ. Được ít hôm sau Còi và người dân quân đi cùng đã bị bắt và bị kết án. Vì Cói trước đây là đảng viên và là công an nên mức án được giảm nhẹ rất nhiều, cậu bị xử 9 tháng tù giam. Trong thời gian ngắn, anh Toàn và cậu Hùng đã chuyển đi trại cải tạo. Quản giáo chuyển tới buồng chúng tôi một anh tên là Trịnh Đăng Thiện, người ở Thành phố Vinh, nhưng thường sinh sống tại Tương Dương chuyên buôn bán mà túy, anh này đã bị kết án mười mấy năm tù, nhưng khi chỉ còn lại 3 năm nữa là hết án, anh lại bị bắt đưa về trại tạm giam để tiếp tục điều tra khởi tố vụ án mới do anh ta buôn bán ma tuy trong trại cải tạo. Quản giáo giao cho anh Thiện làm buồng trưởng buồng chúng tôi. Anh Thiện là người không ngay thẳng, trước mặt tôi thì làm ra vẻ rất tôn trong tôi và rất hiểu những việc tôi làm, nhưng anh lại thường ra ngoài gặp cán bộ để báo cáo lại những sinh hoạt trong buồng, đặc biết là tôi đã nói gì với ai như thế nào. Có hôm anh kể với tôi rằng: Vào những năm 1991 - 1992 anh có làm thợ xây dựng các doanh trại bộ đội tại trung đoàn 5 sư 324 nơi tôi đóng quân. Anh nói chính vào giai đoạn đó, lợi dụng việc đưa hài cốt liệt sỹ Quân tình nguyện Việt nam từ bên Lào về. Các lãnh đạo ngành Quân đội tại đơn vị này đã bỏ ma tuy vào các tiểu sành phủ khăn dã làm hài cốt liệt sỹ xếp lẫn trong xe chở hài cốt để đưa về Việt nam. Do anh làm thợ ở đó, có mối quen biết nên anh cũng nhận "hàng" từ trong đó để đi bán cho một số nơi. Kể từ đó anh trở nên nghiện ngập. Anh là thường hay gây xích mích với các thành viên trong buồng khiến nhiều anh em rất khó chịu. Được một thời gian ngắn cả buồng giam chúng tôi lại phải di chuyển từ buồng 1 xuống buồng giam số 10 vì được biết có tù nhân Trân Hữu Đức một trong nhóm 17 thành niên Công giáo và Tin Lành cũng bị đưa về giam tại buồng giam số 2 nên chắc lẽ vậy mà quan giáo chuyên tôi đi xuống buồng 10 để tách không cho tôi và Đức liên lạc với nhau. Tôi chỉ nghe cậu Hùng thường gọi là Hùng Linh, (vì bố cậu tên là Linh, một giang hồ xứ Vinh), nói cho tôi biết vậy. (vì cậu ấy làm Vệ sinh nhà giam nên được chay ra chạy vào đi trong khu vực nhà giam). Ít lâu sau các tù nhân trong buông lại lần lượt đi trại mới, chỉ còn tôi và Lương Văn Còi ở lại trong buồng, buông số 8 cũng chỉ còn 2 người nên quản giáo dồn tôi và Còi vào buồng 8 ở chúng với 2 tù nhân khác là anh Triệu Văn Bắc người ở Vinh Nghệ an, anh này trước đây là giam đốc một doanh nghiệp tư nhân gì đó, anh bị bắt vì tội danh "Lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản" Anh đang trong thời gian thi hành án thì lại bị đưa về trại để điều tra thêm vụ án mới. Một người tên là Nguyễn Văn Dũng người Hà nội, anh này bị què cả hai chân, trước đây nghiện mà túy bị bắt cải tạo tại trại 6 Thanh Chương, không biết vì lý do gì mà anh lại bị què cả hai chân, mỗi khi đi thăm gặp người nhà thì phải có một tù nhân khác cõng anh đi. Ây vậy mà anh lại là một người buôn bán mà tuy trong trại giam và cũng bị đưa về giam giữ để điều tra tuy tối vụ án mới. Thời gian ở trong buông giam này anh Bắc kể cho tôi nghe một mẫu chuyện về cái xác của Hồ Chí Minh. Theo anh Bắc kể thì trước đây bố anh làm cán bộ trong một bộ gì đó trên Trung ưng. Bố anh kể lại rằng, ngay sau khi Hồ Chí Minh tắt thở, xác của ông đã được bí mật đưa đi chôn cất tại một khu đôi núi thuộc dãy núi Ba Vi Hà tây cũ. Nhưng muốn lợi dụng lòng sùng bái của nhân dân đối với Hồ Chí Mình nên Bộ chính trị và Trung ường đảng đã ngụy tạo xác HCM giả để đặt vào trong lăng cho tới ngày nay.
Trong thời gian bị giam tại đây gia đình tôi đã gửi được kinh thánh vào trại giam cho tôi đọc, nhưng quản giáo Trần Đình Thế  chỉ đưa cho tôi đọc mỗi ngày 1 tiếng xong lại cất đi, theo vị quản giáo này nói thì quan giáo sợ Ban giám thị trại giam biết rằng quản giáo có cho tôi đọc kinh thánh thì anh ta sẽ bị khiển trách. Tôi đã tận dụng điều kiện này để chứng đạo và làm báp têm cho anh Quang Văn Xuân và cậu Lương Văn Còi tin nhận Chúa.
Chiều ngày 26/07/2012 tôi được quản giáo gọi ra gặp gỡ và thông báo: Sáng mai anh sẽ chuyển đi trại Hà Nam. Anh chuẩn bị hành lý để chắc sáng sớm là đi đấy, ra đó mấy tháng nữa là anh về thôi. Những ngày tháng anh ở đây với tôi, anh có gì muốn nói hay nhắn gửi tôi không? Tôi trả lời: Rất cám ơn cán bộ đã có những quan tâm tới tôi trong thời gian cán bộ quản lý nhà giam này. Tôi hy vọng cán bộ phát huy tình thần trách nhiệm, sống vì lương tâm hãy tiếp tục đối xử nhân ái với những tù nhân mà ông quản lý. Tôi nghe nói cán bộ sắp cưới vợ, xin chúc cán bộ có một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Quản giáo Thế cũng chúc tôi giữ gìn sức khỏe, hết án về sống vui vẻ với gia đình và thành công trong cuộc sống, quản giáo còn dặn thêm: Khi nào "cách mạng" thành công anh nhớ tới tôi nhé!
"Còn nữa"
Thanh hóa ngày 7/6/2016
Nguyễn Trung Tôn

Kỳ 25Phiên xử phúc thẩm:
Sau gần 3 tháng kể từ phiên sơ thẩm ngày 29 tháng 12 năm 2011 vào khoảng 17 giờ ngày 25 tháng 3 năm 2012; khi cửa buồng giam đã đóng lại hai lần cửa. Bỗng dưng nghe tiếng chia khóa mở cửa buồng giam số 1 nhà C 2. Quản giáo Trần Đình Thế gọi tôi: Anh Tôn mặc quần áo dài ra ngoài có việc cần. Tôi mặc vội chiếc quần dài đi ra khỏi buồng giam mà không biết là việc gì chuẩn bi đến với mình. Cửa buồng giam đóng lại. Quản giáo Thế hỏi tôi: Anh có nhớ số điện thoại của vợ anh không? Tôi đã đề nghị với Ban giám thị cho anh gọi điện thoại về nhà xem tình hình gia đình anh luật sư thế nào. Trại đã chuyển giấy anh mời luật sư tới nơi cần chuyển, nhưng ngày 28 này đã có lịch xử phúc thẩm vụ của anh rồi mà chưa thấy Luật sư đâu. Anh gọi điện thoại về nhà xem sao nhé. Quản giáo dẫn tôi tới bốt điện thoại cho tôi gọi về nhà. (Đây là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng tôi được gọi điện thoại từ nhà tù về gia đình). Sau khi gọi điện thoại cho vợ, tôi đã thông báo cho gia đình thông tin ngày tôi phải ra tòa phiên phúc thâm, tôi cũng được vợ cho biết là gia đình không có tài chính để thuê luật sư lần này, vợ tôi nói với tôi : Đa phần mọi người đều xác định là phiên phúc thẩm cũng chỉ y án mà thôi vậy nên có thuê luật sư cũng tốn tiền, mà gia đình lại đang rất khó khăn. Mặc dù hơi thất vọng vì gia đình đã quyết định không thuê luật sư cho tôi trong phiên phúc thẩm, nhưng tôi cũng rất vui vì tôi đã thông báo được cho gia đình biết ngày tôi bị xử phúc thẩm. Chiều ngày 27 tháng 3 năm 2012. Một cán bộ trong ban giám thị mà chúng tôi quen gọi là Ban Hà, tới gặp tôi và nói: Ban giám thị đã tạo điều kiện cho anh gọi điện thoại về gia đình (Mặc dù trong quy định thì anh không đủ tiêu chuẩn được gọi) vì cũng mong để anh hiểu rằng trại giam không hề làm khó dễ gì anh cả, chúng tôi luôn muốn tạo điều kiện cho anh để anh có được cơ hội sớm  về với gia đình. Án của anh cũng ngắn thôi, còn có mấy tháng nữa là anh về rồi, nếu phiên phúc thẩm này anh nhận tội xin khoan hồng thì có thể anh sẽ được trả tự do ngay tại tòa đấy! Tôi cám ơn cán bộ Hà và khẳng định rằng tôi sẽ không nhận tội hay xin khoan hồng gì cả, bởi nhứng việc tôi làm là vì lương tâm và trách nhiệm, không thể quy là phạm tội.
Sáng ngày 28/3/2012. Cửa buồng giam mở sớm, Công an dẫn tôi ra cổng trại chở chúng tôi đi cùng với một vài bị cáo khác; cả chị Hồ Thị  Bích Khương cũng được dẫn tới. Chị Bích Khương cho biết rằng chị không nhận được tin gì về việc hôm nay phải ra tòa Phúc thẩm. Xe chở chúng tôi tới Tòa án. Tôi quan sát thấy có vợ tôi và một tín hữu Tin Lành từ Thanh hóa vào tham dự phiên tòa, về phía gia đình chị Khương tôi thấy có chị Hồ Thị Lan và cháu Thành con chị Lan cũng tới.
Khi phiên tòa bắt đầu, chủ tọa phiên tòa là ông Thẩm phán Ngô Hồng Phúc, hỏi chúng tôi: Tòa hỏi các bị cáo hôm nay có đảm bảo sức khỏe tham dự phiên tòa hay không? Có bị cáo nào có ý kiến gì không? Chị Hồ Thị Bích Khương đã mạnh mẽ phản đối và tố cáo quản giáo trại giam đã  cho nhiều phạm nhân khác đánh đập chị, chị tố cáo phía trại giam đã không thông báo cho chị biết trước về lịch xử phúc thẩm và quan trọng hơn nữa là tòa án xử phiên sơ thẩm đã không tống đạt bản án cho bị cáo để làm căn cứ kháng án. Chị yêu cầu tòa hoãn xử và đề nghị gia đình thuê luật sư. Sau khi ý kiến của chị Khương trình bày; ông Ngô Hồng Phúc đã tuyên bố hoãn xử và yêu cầu tòa án cấp sơ thẩm cung cấp bản án sơ thẩm cho chị Khương để chị có cơ sở kháng án bổ sung. Chúng tôi lại bị dẫn lên xe chở về trại giam.
Ngày 29 tháng 5 năm 2012, tôi được cán bộ trại giam dẫn ra nhà thăm gặp để tiếp xúc với luật sư Hà Huy Sơn. Cũng như lần gặp trước, có 2 cán bộ trại giam giám sát buổi gặp gỡ. Sau những lời thăm hỏi, luật sư Sơn đi thẳng vào vấn đề anh hỏi ý kiến và quan điểm của tôi trong phiên xử ngày mai. Tôi đã trình bày cho luật sư biết rằng tôi vẫn giữ nguyên lập trường quan điểm của mình nên đề nghị luật sư bảo vệ cho tôi theo hướng là tôi vô tội. Luật sư Sơn đưa ra nhận định: Tôi tôn trọng ý kiến của thân chủ và sẽ bảo vệ anh theo hướng anh vô tội, tuy nhiên kết quả sẽ không khả quan. Rất có thể vẫn chỉ là ý án, trong trường hợp nếu như trước tòa anh xin khoan hồng thì có thể anh sẽ được giảm 6 tháng, còn nếu không chúng ta cứ xác định là ý án anh ạ. Chia tay luật sư, tôi trở về buồng giam. Đêm đó tôi cầu nguyện khá lâu, tôi cầu xin Chúa cho tôi giữ được thái độ bình tỉnh, lập trường vững vàng trong phiên xử ngày mai. Sáng sớm ngày 30/5/2012 tôi lại được dẫn ra cổng trại cùng một số bị cáo khác để xe đưa chúng tôi tới tòa án. Tới nơi, họ dẫn chúng tôi vào vị trí. Tôi quan sát chẳng thấy một người thân quen nào. Một lát sau, Công an trại giam tới đưa tôi ra một chiếc xe thùng vào giam tôi trên xe, chị Hồ Thị Bích Khương thì bị đưa vào một phòng nhỏ trong khu vực Tòa và giữ tại đó. Buổi sang hôm đó Tòa phúc thẩm đang xử một vụ án khác. Khoảng 10 giờ vụ án kia mới kết thúc. Công an dẫn tôi vào trong tòa để bắt đầu phiên xét hỏi vào lúc khoảng 10 giờ 30. Tôi quan sát thì được biết, tất cả những người dân thường tham dự phiên tòa trước đều bị đuổi ra ngòai. Trong khu vức tòa án hầu hết là công an sắc phục và thường phục. Người thân của tôi chị có mình vợ tôi và một tin hữu Tin lành tham dự. phía gia đình chị Khương hôm đó cũng có chị Lan và hình như có cả chị Huệ, chị gái chị Khương. Luật sư Hà Huy Sơn đã ngồi vào vị trí. Sau vài thủ tục hình thức, Tòa đã đi vào phần xét hỏi. Tôi nhớ như in câu nói của vị chủ tọa phiên tòa là ông Ngô Hồng Phúc: Bị cáo Tôn, hôm nay bị cáo kháng án với lý do gì? Nếu bị cáo kháng án với thái độ ăn năn nhận tội và xin khoan hồng thì tòa sẽ xem xét giảm hình phạt cho bị cáo 6 tháng, nếu bị cáo kháng án với hướng kêu oan thì tòa thấy rằng bị cáo không bị oan, nên mức án sẽ là ý án. Bị cáo có suy nghĩ thế nào?  Tôi trả lời: Thưa quý tòa; tôi khẳng định rằng những việc mà tôi đã làm là hoàn toàn không phạm tội. Vậy nên tôi kháng án kêu oan và đề nghị tòa tuyên tôi vô tội ạ. Lúc này viên chủ Tọa Ngô Hồng Phúc đã nói: Gia đình của Nguyễn Trung Tôn có những người thân là liệt sỹ trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước, nhưng Nguyễn Trung Tôn lại đi ngược lại truyền thống của gia đình. Nếu hôm nay vong linh của những người thân đó có mặt tại đây sẽ rất xấu hổ vì đã có một người em, người cháu như Nguyễn Trung Tôn. (lúc này tôi không được phép nói nên đành phải im lặng).
Trong thời gian xét hỏi tôi ông chủ tọa hỏi về mối quan hệ giữa tôi và chị Khương là gì, mặc du tôi đã trả lời rất rõ rằng Tôi là Mục sư còn chị Khương là tin đồ nên có thể nói rằng mối quan hệ của chúng tôi là "Thầy trò" nhưng chủ tọa vẫn cố tình lèo lái vấn đề để bôi xấu mối quan hệ vốn rất bình thường giữa tôi và chị Khương. Với vài câu hỏi mang tính hình thức cũng giống như trong phiên sơ thâm, phần tranh luận cũng rất tẻ nhạt, những lập luận mà luật sư đưa ra không được Tòa để ý. Rồi Tòa tuyên nghĩ buổi sáng và sẽ tiếp tục xét xử tiếp vào buổi chiều. Xe lại đưa chúng tôi về trại giam. Khoảng 13 giờ 30 chúng tôi lại bị dẫn ra xe để đưa tới Tòa án.  Khoảng 14 giờ 30 Tòa tiến hành tiếp phiên xử, buổi chiều hôm đó bắt đầu bằng phần hỏi đáp. Tòa hỏi và chúng tôi chỉ được quyền đáp "có" hay "không". Rồi tới phần Tòa cho chúng tôi nói lời cuối cùng trước khi tuyên án. Buổi chiều hôm đó chị Hồ Thị Bích Khương dường như rất bức xúc, chửi um cả phiên tòa, chị tố cáo Công an trại giam và lên án chế độ, chi hát đi hát lại mấy câu hát trong bài hát "Hãy trả lời tôi" Chị bị công an ép dẫn ra khỏi khu vực xử án. Phần xét hỏi chỉ trong vòng  khoảng 15 phút Tòa tuyên ố dưng xét hỏi để vào phần nghị án .  Sau mấy phút gọi là nghị án, Tòa bắt đầu phần tuyên án, (lúc này không có mặt chị Hồ Thị Bích Khương trước Tòa).
Tòa tuyên y án cả 2 chúng tôi rồi tuyên bố kết thúc phiên xử. Khoảng 15 giờ xe lại đưa chúng tôi quay về nhà giam như trước.
Cuối tháng 5, cái nắng Miền trung như thiêu như đốt muốn làm cháy xám da người. Chiều lại thường nổi những cơn giông, những luồng gió trong chiều giông cuốn theo muồi hôi hám của hố rác thải, bụi bặm từ những con đường góc phố làm cho cơn bão lòng tôi lại trào dâng một nỗi xót xa cho quê hương đất nước.
Bỗng nhiên lời Chúa " Hãy dẹp sự giận, và bỏ sự giận hoảng; chớ phiền lòng vì điều đó chỉ gây ra việc ác. Vì những kẻ làm ác sẽ bị diệt; Còn kẻ nào trông cậy Chúa sẽ được đất làm cơ nghiệp. Một chút nữa kẻ ác sẽ không còn. Ngươi sẽ xem xét chỗ hắn thật không còn nữa. (Thi Thiên 37: 8-10).  
Tôi tin cậy Chúa và biết rằng: Những kẻ nhân danh Chính quyền để xét xử chúng tôi ngày hôm ấy, sẽ không thể nào tòn tại trước Chân lý vĩnh hằng. Những kẻ ác đó ắt sẽ bị diệt vong.
"Còn nữa"
Thanh hóa ngày 15/6/2016
Nguyễn Trung Tôn



 Kỳ 26 Chuyển Trại
 Màn đêm dày đặc lại bao trùm lấy buồng giam. Biết rằng mình sắp chuyển trại đi nơi khác nên đêm đó tôi danh thời gian nói chuyện khá nhiều với mấy anh em trong buồng giam. Khoảng 22h khi chúng tôi bắt đầu đi ngủ thì nghe tiếng chìa khóa lẽng xẻng tiến lại gần, rồi buông giam chúng tôi được mở ra. Một tù nhân mới bị dẫn vào. Buồng giam quá chật lúc này đã lên con số 6 người nên tôi và phạm nhân mới vào phải nằm dưới lối đi mà thường gọi là "Xa lộ".  Trời đã vào thu, nhưng thời tiết vẫn nóng như đốt, lại ở trong buồng giam chật chội kín mít với hai lần cửa sắt, khiến cái nóng lại càng tăng lên. Tôi cứ thấp tha thấp thỏm không sao ngủ được.
Khoảng 2 giờ sáng; tiếng chia khóa lại lẽng xẽng kêu lên và buồng giam mở ra. Một cán bộ quản giáo trực đêm gọi tên tôi: Nguyễn Trung Tôn lấy tư trang để chuyển trại. Tôi chào anh em trong buồng giam, rồi ôm bọc quần áo tư trang bước theo vị quản giáo, có hai người lính vũ trang đi kèm tôi. Họ dẫn tôi ra cổng trại giam, có một chiếc xe thùng đã đợi sẳn. Tôi gặp một vị quản giáo tên là Thành nhưng không phải là Thành cao. Người này nói với tôi: Hôm nay chúng tôi sẽ chuyển anh tới trại Hà Nam. Hôm qua mới đưa chị Khương đi Thanh Hóa rồi, chị Khương có nhắn tôi dặn anh, khi ra tù nhớ để ý chăm nom thằng Đức. Họ còng hai tay tôi lại rồi tống tôi lên xe thùng và đóng cửa lại. Xe vẫn chưa chạy ngay mà còn đợi mãi. Khoảng 30 phút sau, thấy cửa thùng xe lại mở ra; Công an lại dẫn tới hai cậu bé khoảng chừng tuổi 12, cả hai bị còng chung một chiếc còng số 8. Họ tống hai cậu bé lên xe rồi đóng cửa thùng. Xe bắt đầu chuyển bánh. Trên thùng xe có tôi và 2 cậu bé làm bạn đường với nhau. Tôi hỏi hai cậu: Các cháu bị tội gì mà lại bị bắt vào đây? Một trong 2 đứa trả lời rất tự nhiên. Trộm cắp, đánh nhau… Tôi hỏi tiếp thế các cháu có biết họ đưa các cháu đi đâu không? Một cậu đáp, đi Trại giáo dưỡng Ninh bình chứ còn đi đâu nữa. Một cậu tự rút tay ra khỏi   còng số 8 để ngồi cho thoãi mái. Chúng dựa vào nhau ngủ ngon lành. Mình tôi cứ ngồi chong chong trên xe, chỉ mong sao khi xe chay qua Thanh hóa tôi có thể tranh thủ nhìn ngắm quê hương thêm một lần sau 18 tháng xa cách. Chiếc xe chạy lao đi trong đêm tối, thỉnh thoảng lại hắt tung lên vì ổ gà trên đường. Chắc khoảng 7 giờ sáng thì xe dừng lại. Tôi cố dán con mắt sát vào một lỗ nhỏ trên thùng xe để nhìn ra. Tôi phát hiện vị trí chiếc xe dừng lại là đường Lê Hoàn Thành phố Thanh hóa. Cố nhin mãi tôi mới biết rằng những người dẫn giải tôi họ dừng lại để vào ăn sáng tại một quán ven đường. Tôi cố gắng nhìn xem có ai quen biết đi qua để nhắn vài câu về nhà, nhưng không thấy ai cả. Khoảng 8 giờ xe lại tiếp tục chuyển bánh. Tầm 10 giờ xe chở chúng tôi rẽ vào trại giáo dưỡng tỉnh Ninh Bình, Hai cậu bé vội vàng luồn tay vào còng như cũ. Họ dừng xe, đưa hai cậu bé vào làm thủ tục nhập trại, chừng 30 phút họ tiếp tục đưa tôi đi tiếp. Tới ngã 3 Phủ lý xe rẽ trái để vào khu trại giam thuộc xã Ba Sao huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đường đi rất xấu nên xe cứ xóc lên hắt tôi chao đảo trong thùng xe, vì hai tay đã bị còng nên khó giữ thăng bằng. Có lẽ do bị lạc đường nên chiệc xe cứ chạy vòng đi rồi lại vòng lại, sau đó họ đưa tôi vào Phân trại 2 của trại giam Ba sao. Để tôi ngồi trên thùng, họ cầm hồ sơ giấy tờ đi mãi mới thấy quay ra rồi lại đi tiếp. Trời nắng nóng như thiêu như đốt, thùng xe đóng kín không có gió vào nên người tôi mệt lã ra. Xe chay vào Phân trại 1 rồi dừng lại, họ mở cử thùng xe gọi tôi xuống. Trước mặt tôi một khung cảnh hoàn toàn lạ lẫm, vì tôi chưa tới đây bao giờ. Phía người dẫn tôi đã làm xong thủ tục bàn giao tôi cho trại giam mới. Họ cũng bàn giao 200.000đ tiền lưu ký tồi dùng còn dư ở trại cũ cho trại mới để tôi có mà mua sắm chút đồ dùng. Sau khi tiếp nhận tôi, thì đã hết giờ làm việc. Viên công an tên là Quảng kiểm tra sơ bộ hành lý của tôi rồi bảo: Cậu cứ để đây chiều ra nhận lại nhé, bây giờ vào nhận buồng đã vì hết giờ làm việc rồi. Người này gọi một cán bộ cao to có nước da đen tên là Chanh tới dẫn tôi vào buồng giam số 2 của trại giam, (đây là buồng giam danh giam giữ những người bị mang án mà họ gọi là: An ninh Quốc gia. Cửa buồng mở ra tôi bước vào buồng, nhìn thấy có khoảng 40 người tù đang nằm nghĩ trưa.
Một cậu trẻ tuổi người HMoong lại hỏi tôi: Anh ở đâu tới đấy?
 Tôi nói tôi người Thanh hóa nhưng bị tạm giam ở Nghệ an mới chuyển ra đây?
Cậu hỏi tôi: Án Dân chủ hả anh?
Tôi đáp: Đúng.
Cậu hỏi tiếp: Anh có biết người nào tên là Vi Đức Hồi không?
Tôi trả lời: Tôi có nghe tên nhưng chưa gặp mặt.
Cậu ấy chỉ vào một người đang trải chiếu nằm giữa lối đi: Đấy bác Hồi đấy.
Người được giới thiệu là Vì Đức Hồi ngốc đầu lên hỏi tôi: Ở đâu tới đấy?
Tôi trả lời: Em ở Nghệ an ra:
Anh Hổi hỏi: Ăn uống gì chưa?
Dạ chưa anh ạ, chắc lát nữa họ mang cơm tới!
Có tiếng gọi ngoài cửa sổ, Nguyễn Trung Tôn nhận cơm này.
Tôi lại phía cửa số đưa tay nhận gô cơm.
Người tù đưa cơm nói: Hết thức ăn rồi, ăn tạm chút cho đỡ đói rồi chiều nhận theo xuất nhé.
Tôi ngồi xuống nên nhà nhìn gô cơm trắng không có gì ăn, lại đang mệt nên tôi không ăn.
Một tù nhân khác trong buồng bảo tôi lấy tạm một chiệc chiếu trải xuống đất năm nghĩ đỡ, chiều sẽ bố tri nơi nằm ổn định cho tôi.
Tôi ngã lững xuống nền nhà nằm một lát cho đỡ mỏi rồi chợp mắt khi nào không rõ. Được một lúc thì tôi dật mình tỉnh dậy vì tiếng kẻng báo thức vang lên. Các tù nhân vùng dậy tập trung đứng đợi ngay lối ra. Tiếng chìa khóa cùng tiếng chân người tiến mỗi lúc một gần, cửa buồng giam được mở ra. Các tù nhân ai lại vào việc nấy, người thì đan lát, người thì chẻ nan, người quét rác… Tôi được một tù nhân tên là Long, (tức là vị buồng trưởng khi trưa đã bảo tôi ngã lưng tạm rồi chiều bố trí chỗ nằn cho tôi) gọi lại ghi trích ngang, xong bố trí chỗ nằm cho tôi. Chỗ nằm của tôi ở trên tầng, nằm gần xó trong cùng phía nhà vệ sinh. (Vì buồng giam thiết kế hai từng sàn nằm). Nhận chỗ nằm xong, tôi được đưa ra cổng trại nhận lại hành lý, Các quần áo của tôi đều bị đóng dâu hai chữ "Phạm Nhân" Tôi thắc mắc, đây là quần áo dân sự của tôi, sao lại đóng dấu vào thế này, hơn nữa tôi không nhận mình phạm tội sao lại đóng hết vào quần áo tối cái dấu này vậy? Cán bộ trinh sát tên là Quảng giải thích với tôi rằng cần phải đóng dâu vào để tù nhân khỏi mặc áo không dâu trốn trại, hơn nữa anh không nhận tội là quyền của anh, nhưng đã vào đây thì không phải cán bộ thì chỉ có phạm nhân. Anh phải chấp nhận thôi. Tôi nhận lại quần áo hành lý rồi về buồng tắm giặt. Chiều hôm đó tôi ghé lại nơi anh Vi Đức Hồi đang lao động, (Công việc của anh là ngồi kết nhưng thanh giang đã chẻ mỏng thành những vòng tròn như cái mâm). Tôi và anh Hồi nói vài câu chuyện với nhau. Anh vui lắm, vì trong buồng giam vào thời điểm đó chỉ có mình anh Hồi là tù nhân bị kết án theo điều 88, nay thêm tôi vào anh cũng có bạn để tâm sự, chia sẽ. Tôi cũng mừng vì ít ra cũng đã có người làm bạn. Cậu thanh niên trẻ người HMoong đã hỏi chuyện tôi khi trưa tên là Sồng Vã Giống người Tây Bắc cậu đã ở tù nhiều năm, có khá nhiều kinh nghiệm. Cậu gọi tôi lại dặn dò từng chút một. Cậu thì thầm với tôi rằng: Anh vào đây phải cẩn thận nhé. Trong buồng này có nhiều Ăng ten lắm. Chỉ có các anh em Tây Nguyên và anh em Tây Bắc là tin được, còn những tù nhân mang án Gián điệp họ sẳn sàng đổi thông tin cho cán bộ để được giảm án đấy. Cậu chỉ cho tôi vài khuôn mặt để tôi cảnh giác. Buổi chiều hôm đó tôi chưa có mắm muối hày thức ăn gì, cũng chẳng có bát đũa. Anh Hồi bảo tôi nhận cơm rồi ăn cùng với anh. Bữa cơm đầu tin ở trại mới, tôi ăn cùng với anh Hồi và cậu Giống. Một bữa cơm tù nhưng mang không khi gia đình, đồng đội. Tôi thấy ấm áp tình anh em nới chốn lao tù.
(Còn nữa).
Thanh hóa ngày 8/6/2016
Nguyễn Trung Tôn