Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

Tiếng kêu cứu của tù nhân lương tâm Hồ Thị Bích Khương


Ngày 26/1/2014 vừa qua, cháu Nguyễn Trung Đức, con trai duy nhất của tù nhân lương tâm Hồ Thị Bích Khương, đã vào trại giam số 5 Thanh Hóa để thăm mẹ.

Khi về nhà cháu cho tôi biết: Hiện tại chị Bích Khương đang rất yếu, gầy và xanh xao. Theo lời cháu Đức kể lại thì thời gian vừa qua do xương vai bị gẫy đã lâu không được chữa trị nên đã thành tật và rất đau đớn. Chị không thừa nhận là mình có tội gì và vì chỗ xương gẫy đau nhức liên tục nên chị không tham gia lao động “cải tạo”. Nhưng vì vậy mà cán bộ trại giam chỉ thị cho các tù nhân khác đánh đập chị nhiều lần. Chỉ trong tháng 1/2014 chị đã 2 lần bị những phạm nhân cùng buồng giam là những người nghiện ma túy đánh đập. Trong lúc gặp con trai mình chị không thể nói hết được những sự kiện đã xảy ra với chị trong nhà tù, vì có tới 4 công an giám sát buổi nói chuyện. Chị chỉ có thể nhắn nhủ ra ngoài rằng mong mọi người hãy cầu nguyện và lên tiếng bênh vực cho chị.

Xin nhắc lại đây là lần thứ 3 chị Hồ hị Bích Khương bị nhà nước CHXHCNVN kết án. Chị bị bắt lần thứ 3 vào ngày 15/1/2011 bị cáo buộc tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN” theo điều 88 Luật Hình Sự. Sau đó chị bị kết án 5 năm tù giam và 3 năm quản chế. Hoàn cảnh gia đình chị rất neo đơn bởi chồng chị đã qua đời. Chị chỉ có một con trai duy nhất hiện đang theo học bổ túc văn hóa tại Trung tâm giáo giục thường xuyên tỉnh Nghệ an.

Cháu Đức rất lo lắng việc chị Bích Khương có thể chết trong tù vì vết gẫy xương vai vẫn thường làm chị lên cơn sốt, lại thêm những trận đòn tập thể của các tù nhân khác. Hai năm tù còn lại là quãng thời gian vô cùng tăm tối cho chị.

Kính mong các cơ quan theo dõi nhân quyền quốc tế và các nhà đấu tranh dân chủ trong, ngoài nước lên tiếng bênh vực chị.

Thanh Hóa ngày 28/1/2014
Nguyễn Trung Tôn
ĐT: 01628387716

Email: nguyentrungtonth@gmail.com

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Trí óc Việt Nam cần được giải phóng



Khi tôi còn rất nhỏ, chắc chỉ khoảng 3 hay 4 tuổi gì đó, khi mà cuộc chiến tranh hai miền Nam – Bắc vẫn đang tiếp diễn, trẻ con chúng tôi đã được nghe rất nhiều những câu chuyện với đại ý: cả những con vật vô tri cũng biết căm thù “Mỹ - Ngụy”. Tôi còn nhớ từ những chuyện “Trâu cũng biết đánh giặc” tới chuyện phân biệt kiến ta kiến địch. Người lớn nói với chúng tôi rằng loài kiến đen là kiến cộng sản, loài kiến đỏ là kiến “Ngụy”. Kiến đen là của phe mình  không cắn đốt ai cả. Kiến đỏ là kiến của “Mỹ - Ngụy” nên chúng thường hay cắn đốt người. Tôi và chắc hầu hết bạn bè tôi đều ngây thơ tin tất cả những câu chuyện này. Mỗi khi tôi nghịch bị kiến đốt là tôi lại thấy rất căm thù “Mỹ - Ngụy”.

Những câu chuyện thời trẻ con tương tự như vậy đã in đậm trong suy nghĩ của tôi. Tôi căm thù “Mỹ - Ngụy” đã giết chết những người thân của tôi cùng bao nhiêu đồng bào khác nữa.


Cho tới năm 1981, lúc này tôi đã 10 tuổi, tôi được bố tôi đưa vào Sài Gòn thăm gia đình bác ruột tôi. Người anh này của bố tôi đã bỏ xứ ra đi từ bao giờ tôi không rõ. Bác tôi đã lấy vợ sinh con, và sống tại Sài Gòn. Bác tôi có một người con lớn. Trước năm 1975 anh ấy học trong một trường sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Sau khi Miền Nam thất trận, anh bị bắt đi "học tập cải tạo". May nhờ bố tôi làm giấy tờ xác nhận gia đình tôi là gia đình “có công cách mạng” nên anh được rút ngắn thời gian cải tạo. Năm 1981 khi tôi vào Nam thì bác tôi đã qua đời. Anh trai cả của bác là người đón tiếp chúng tôi.

Mặc dù mới mười tuổi nhưng lúc này trong tôi đã có nhiều thắc mắc rất lạ. Sao trước đây tôi nghe người lớn kể rằng “Ngụy” rất xấu xa độc ác nhưng lúc đó tôi thấy anh tôi lại rất hiền lành và tình cảm với chúng tôi. Cũng nhờ mối quan hệ gia đình ở Sài Gòn nên có dịp vào đây một hai lần, gặp gỡ những người mà trước đây tôi vẫn gọi là “Ngụy”, tôi mới được biết và sau đó mới thấu hiểu tấm lòng của họ. Họ cũng như tôi, cũng là người Việt Nam, cũng máu đỏ da vàng, thậm chí cùng là họ hàng máu mủ của tôi. Ấy vậy mà trước đây sao tôi lại căm thù họ tới vậy! Tôi bắt đầu thay đổi suy nghĩ của mình về cuộc chiến tranh đầy đau khổ này.

Vì cuộc chiến tranh đó mà gia đình tôi phải ly tán. Vì nó mà máu đồng bảo tôi ở cả hai miền phải đổ ra quá nhiều. Tôi không còn căm thù những người mà trước đây tôi xem là “Ngụy” nữa. Ngược lại, tôi biết họ chính là đồng bào, bà con, họ hàng, ruột thịt của tôi.

Xin lỗi quý độc giả tôi hơi miên man một chút trước khi đi thẳng vào vấn đề. Điều thắc mắc lớn còn lại trong lòng tôi đến ngày nay là tại sao những người cộng sản, hay nói đúng hơn là các lãnh đạo CSVN, vẫn còn hằn thù những người lính VNCH và gia đình họ tới như vậy - những người mà họ không ngừng gọi là “Ngụy”. Tại sao thù hằn tới độ đập phá nghĩa trang Biên Hòa? Tại sao thù hằn đến độ gây sức ép lên cả chính quyền Indonêxia để đập bỏ bia tưởng niệm các thuyền nhân Việt Nam - mà họ dán nhãn là "gia đình Ngụy"- đã bỏ mạng trên biển? và còn nhiều dẫn chứng khác nữa.

Ngày 19/1/2014 vừa qua, tức ngày kỷ niệm 40 năm cuộc Hải chiến Hoàng sa, tại tượng đài Lý Thái Tổ ở Hà Nội, một số công dân mang tính đại diện cho bà con khắp nơi muốn công khai bày tỏ tấm lòng tri ân đối với những người đã hy sinh tính mạng vì sự toàn vẹn của đất nước. Đây là một việc làm rất đáng được trân trọng và hoàn toàn nằm trong tập tục, văn hóa Việt Nam, cũng như đúng với truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Thế nhưng họ đã không thể làm được như tâm nguyện trước sự quấy phá bằng nhiều hình thức của những lực lượng nhân danh cái gọi là “chính quyền”. Chắc quý vị đã đọc nhiều bài tường trình của những người có mặt tại chỗ.

Kính thưa quý vị, một chính quyền của dân, do dân và vì dân thì không bao giờ lại có những hành động thiếu văn hóa, vô đạo đức, thất nhân tâm như vậy. Đến gỗ đá cũng phải đau lòng!

Tôi nghiệm thấy nguyên nhân chính đã đẩy lãnh đạo đảng tới tận cùng của sự tối tăm đó chính là ý thức hệ, rồi họ buộc cả nước phải đi theo. Kết quả là cả dân tộc này đang bị trói buộc làm nô lệ cho chủ nghĩa Mác-Lê giữa lòng nhân loại ở đầu thế kỷ 21. Chủ nghĩa này đã ngang nhiên chiếm ngự mọi mặt từ đời sống hàng ngày tới lề lối suy tư của người dân trên cả nước Việt Nam, bất kể thực tế là nó đã bị nhiều dân tộc loại bỏ ở khắp Đông Âu và ngay tại nước sản sinh ra nó là Liên Xô. Ở Việt Nam, với tình trạng suy thoái mọi mặt của xã hội, sợi xích vô hình này càng cần phải gỡ bỏ ngay lập tức. Nhưng thật đáng thất vọng khi ngay cả bước đầu tiên và chỉ mới mang tính lý thuyết là việc bỏ điều 4 - một điều quá nghịch lý, nghịch thời - ra khỏi bản Hiến pháp mới mà vẫn không dám làm. Lãnh đạo đảng phê phán rất rõ và rất hăng các căn bệnh trầm trọng của xã hội, từ lạm quyền đến tham nhũng, và cũng thấy rất rõ bài thuốc để chữa tận gốc. Nhưng khi đến khâu đưa giải pháp vào thực hiện thì lãnh đạo đảng đều run rẩy lùi bước và lại đưa lợi ích của cá nhân mình và phe nhóm lên trên tất cả.

Thế là các chủ nghĩa mang tính bùa ếm đó tiếp tục làm cho con người Việt Nam ngày càng ít tính nhân bản và càng trở nên tàn nhẫn, độc ác với nhau. Nó tiếp tục tạo lằn ranh chia cắt tình huynh đệ, nghĩa đồng bào. Và quan trọng hơn cả, nó tiếp tục làm dân tộc ta suy úy, mở ra cơ hội cho Trung Quốc xâm chiếm dần từ lãnh thổ, lãnh hải đến kinh tế và văn hóa. Nếu không thoát được cái vòng “Kim cô” đang kềm hãm cả dân tộc Việt này, thì việc mất luôn những đảo còn lại tại Trường Sa chỉ còn là vấn đề thời gian và tiến trình biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung Quốc sẽ không còn chận lại được nữa trong thập kỷ tới.

Muốn xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh thật sự và nhất là muốn giữ lấy Tổ Quốc Việt Nam thì điều đầu tiên dân tộc Việt Nam phải làm là phải tìm cách giải phóng chính mình ra khỏi sợi xích vô hình mà lãnh đạo đảng không đủ can đảm để đụng đến. Một khi đại khối dân tộc chúng ta không còn lề thói suy nghĩ dưới bóng chủ nghĩa Mác-Lê nữa, thì những người cần được giải phóng kế tiếp chính là những người trong Quân đội và Công an, để các anh không còn phải “Trung thành với đảng trước rồi tổ quốc sau” hay “Chỉ biết còn Đảng còn mình”. Chính nhân phẩm các anh được phục hồi.

Bởi quy luật tất yếu của xã hội đã được cả nhân loại chứng minh: Khi trí tuệ con người không còn bị kềm hãm thì độc tài nhất định phải bị triệt tiêu để nhường chỗ cho một xã hội dân chủ, công bằng, và tự chữa được bệnh tật để đi lên.

Chúng ta cùng giúp nhau và giúp dân tộc gỡ bỏ cái vòng kim cô hiểm độc này ra khỏi trí óc của mình.

Thanh Hóa ngày 24/1/2014
Nguyễn Trung Tôn

ĐT: 01628387716

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Xã Hội Dân Sự - Liều Thuốc Giải Độc Cho Dân Tộc Việt Nam.



Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc anh hùng, có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Bởi truyền thống quý báu đó mà trong hơn bốn ngàn năm qua, mặc dù đã nhiều lần bị giặc Phương Bắc đô hộ tổng cộng hàng ngàn năm và giặc tây đô hộ hàng trăm năm, nhưng bất cứ giai đoạn nào Việt Nam ta vẫn có những anh hùng hào kiệt cả nam lẫn nữ, sẵn sàng hy sinh tuổi thanh xuân, vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi để phát động quần chúng cùng đứng lên chống lại kẻ thù, giành lại chủ quyền tổ quốc và danh dự dân tộc.

Từ năm 1945 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên cả 2 miền, dưới sự cai trị của người và chủ nghĩa Cộng sản -- một chủ nghĩa ngoại lai núp bóng dân tộc -- họ đã đẩy lùi nước ta trở về với lạc hậu, biến người dân dần dần trở nên hèn nhát và thụ động. Độc lập dân tộc, tự do dân chủ
là niềm ước ao khao khát của bất cứ một quốc gia dân tộc nào trên thế giới, đặc biệt với một quốc gia thuộc địa như Việt Nam trước năm 1945. Bởi sự khát khao này của người dân Việt Nam mà Cộng sản Quốc tế đã dễ dàng thông qua ông Hồ Chí Minh để đưa chủ thuyết của họ xâm nhập vào Việt Nam với danh nghĩa “giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước” . Cũng dưới danh nghĩa này mà Đảng Cộng sản đã dễ dàng quy tụ được quần chúng. Chỉ sau khi nắm trọn quyền hành trong tay, Cộng sản Việt Nam mới đóng chặt mọi cánh cửa với thế giới tự do bên ngoài (ngoại trừ một số nước cùng theo chủ nghĩa Cộng sản). Từ đó tước đoạt đi những quyền căn bản của người dân.

Dưới hình thức của các tổ chức xã hội tập hợp dưới cái gọi là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đảng Cộng sản đã dễ dàng thực hiện các bước đầu độc tư tưởng người dân. Thông qua các tổ chức xã hội như Đội Thiếu niên HCM, Đoàn Thanh Niên CSHCM, Hội Phụ Nữ, Hội Nông Dân … đảng đã thực hiện mọi biện pháp tuyên truyền làm biến dạng và lu mờ dần trong tâm trí quần chúng nhân dân về quyền tự do dân chủ thực sự. Đảng tự đề cao vai trò lãnh đạo của chính họ, triệt tiêu mọi ý thức phản kháng của nhân dân, dần dần hình thành trong quần chúng nhân dân những suy nghĩ thụ động, phó mặc, ỷ lại và đặc biệt là sợ hãi.

Nhờ đó đảng có thể tự tung tự tác, kể cả sử dụng những màn kịch bầu cử để tuyên bố rằng đại đa số nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của đảng. Khi đã thực hiện xong chính sách “ngu để trị” đối với đa số quần chúng nhân dân, đảng vẫn chưa yên tâm nên cũng thiếp lập nhiều chân rết của các "tổ chức xã hội" của họ tới từng địa phương cơ sở.

Đến khi các nước Cộng sản ở Châu Âu tan rã, Đảng Cộng sản bắt đầu buộc phải mở cửa buôn bán với các quốc gia dân chủ bên ngoài để tồn tại. Nhưng lúc này  bởi sự đầu độc tư tưởng kèm theo sự đe dọa uy hiếp kéo dài qua nhiều hình thức nên trong tâm trí đại đa số người dân đã không còn nhận diện được thế nào là dân chủ thực sự, mặc dù hai từ này vẫn được đảng Cộng sản đưa ra để mỵ lừa nhân dân và Quốc tế từ lâu.

Những năm gần đây nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin mà một số khá đông người dân đã được giải độc và vượt lên khỏi nỗi sợ hãi của chính mình để thực hiện những hoạt động tích cực như chúng ta đang thấy. Những đoàn dân oan kiên quyết đi khắp nơi kêu oan khiếu kiện. Nhiều anh chị em trẻ mạnh dạn lên tiếng đòi tự do dân chủ. Người Việt cùng nhau xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Số người tham gia càng ngày càng đông, mặc dù Đảng cộng sản đã dùng nhiều thủ đoạn đàn áp trắng trợn. Họ không còn có thể dập tắt được những khát khao dân chủ thật sự.

Nhưng đáng tiếc là cho tới ngày nay mặc dù đại đa số người dân đều đã trực tiếp chứng kiến hoặc chính họ là nạn nhân của những bất công trong cuộc sống dưới tay các cán bộ đang nắm quyền nhưng phần lớn người dân vẫn chưa thoát được sự sợ hãi để lên tiếng phản đối và đòi lại các quyền của minh. Hầu hết còn chấp nhận cam chịu, phó mặc, hoặc ỷ lại cho một thế lực vô hình nào đó làm thay họ.

Vậy cách nào để có thể giải độc cho đại đa số đồng bào chúng ta không? Bởi hầu hết bà con chúng ta là nông dân, công nhân, và dân nghèo thành thị, họ không có điều kiện tiếp cận với thông tin đa chiều, không có thời gian để tim hiểu về dân chủ nhân quyền vì phải lo cho miếng cơm manh áo hàng ngày của gia đình. Đây là lực lượng đông đảo, đóng vai trò hệ trọng trong mọi đổi thay cho đất nước nhưng cũng bị nhiễm độc nhiều nhất qua hệ thống tuyên truyền của đảng Cộng sản. Đây là một thách thức lớn cho những người đang đấu tranh cho một nền dân chủ thực sự ở Việt Nam.

Năm 2013 đã xuất hiện một số đáng kể các hội đoàn Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam bất chấp các nỗ lực ngăn cản đàn áp của nhà cầm quyền. Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho nhân dân Việt nam. Trong năm 2014 này, liệu các hội đoàn Xã Hôi Dân Sự có thể nhân lên nhiều, có thể giải độc tư tưởng cho đại đa số nguời dân Việt Nam, và dần dần thay thể những tổ chức xã hội trá hình của đảng hay không vẫn còn tùy thuộc nhiều vào quyết tâm của tất cả chúng ta.

Tuy nhiên, điều có thể nói chắc là ước mơ trả lại cho dân tộc Việt Nam truyền thống oai hùng bất khuất và ước mơ canh tân, đưa những tư tưởng dân chủ tiến bộ và lòng tự trọng dân tộc thực sự tới quần chúng nhân dân, đã và đang là hoài bão của biết bao sĩ phu, trí thức Việt suốt hơn 200 năm qua. Nỗi thôi thúc đó chưa lúc nào ngơi nghỉ và nay đang là động cơ phía sau các nỗ lực phát triển Xã Hội Dân Sự -- con đường giải thoát dân tộc với tối thiểu đổ vỡ và thiệt hại.

Đã đến lúc giấc mơ 200 năm đó phải bắt đầu trở thành hiện thực trong năm 2014 này.

Thanh hóa ngày 6/1/2014
Nguyễn Trung Tôn
ĐT 01628387716

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

Thư Thỉnh Nguyện củ



NGUYỄN TRUNG TÔN: THƯ THỈNH NGUYỆN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

THƯ THỈNH NGUYỆN

Kính gửi:
- CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM
- CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM
- THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
- BỘ NGOẠI GIAO
- BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ.

Tên tôi là: Nguyễn Trung Tôn. Sinh năm 1971.
Trú quán tại thôn Yên Cổ - xã Quảng Yên - huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hoá.

Tôi thật sự buồn khi phải viết những dòng thư này gửi tới quý vị, vì tôi biết đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam có chủ trương chính sách rõ ràng về việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và quyền bình đẳng của con người, thông qua Hiến pháp và pháp luật, cũng như các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Nhưng trên thực tế thì tại một số địa phương, chủ trương và chính sách của Nhà nước vẫn bị chà đạp xem thường, người dân vẫn bị phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo bị xúc phạm nhân phẩm, danh dự thân thể.

Kính thưa quý vị: Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Gia đình tôi có 2 liệt sĩ hy sinh trong 2 cuộc chiến tranh dành độc lập và một người phải bỏ mạng vì bom trên mặt trận sản xuất. Bố tôi cũng là người tham gia công tác tại địa phương trong những năm kháng chiến.

Bản thân tôi được học dưới mái trường XHCN. Tuy học vấn không cao nhưng cũng đủ nhận ra "chân lý" đúng sai. Từ năm 1990 đến năm 1993 tôi tham gia nghĩa vụ quân sự, hiện nay là quân dự bị của huyện Quảng Xương. Khi xuất ngũ về địa phương, tôi tham gia công tác đoàn thanh niên, là thành viên của các đoàn thể trong thôn xóm. Dù ở trong cương vị nào tôi luôn luôn tích cực trong công việc của mình, chỉ mong được góp một phần nhỏ cho công cuộc xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tạ ơn Đức Chúa Trời đã chọn tôi làm tôi tớ của Ngài.
Năm 2002 tôi tin chúa Giêxu và trở thành một Cơ Đốc Nhân sốt sắng với công việc Chúa.
Từ đó cuộc đời tôi sang một trang mới:

- Mới vì tôi nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời được ấn chứng bởi Đức Thánh Linh và nhận ra chân lý Giêxu để sống yêu thương không vị kỷ, tha thứ và có mục đích rõ ràng.

- Mới vì đã bị loại ra khỏi các đoàn thể tại địa phương, bị bắt bớ đánh đập, bị đối xử phân biệt vì tin Chúa Giêxu và được ban cho danh hiệu "kẻ theo tạp đạo trái phép".

Vào tháng 5/2003 gia đình tôi bị hàng trăm người dân địa phương trong đó có cả an ninh nông thôn kéo đến vào ban đêm cắt điện, đánh đập chửi rủa và phá phách.

Tôi đã viết thư, làm đơn gửi tới các cấp chính quyền để trình bày niềm tin tín ngưỡng và nguyện vọng của mình để xin được giúp đỡ nhưng không được đáp ứng. Kể cả việc tôi sửa hộ khẩu gia đình và làm CMND có ghi tôn giáo Tin Lành cũng không được.

Nhưng tôi mặc lấy tình yêu của Chúa mà yêu thương tất cả mọi người, tha thứ cho những hành vi của những quan chức địa phương đã xúc phạm tôi. Vì tôi biết Chúa Giêxu cũng yêu họ như Ngài đã yêu tôi. Tôi cầu nguyện thật hết lòng để họ nhận được sự cứu rỗi.

Thưa quý vị: vào ngày 18/6/2006, tôi tới xóm 6 xã Thiệu Viên, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá để thăm gia đình chị Lê Thị Minh và cùng thờ phượng Chúa, vì gia đình chị Minh đồng tín ngưỡng với tôi.

Lúc 8h30' khi tôi đang ngồi uống nước cùng vợ chồng chị Minh (chưa thờ phượng Chúa) thì có 2 anh phó Công An xã là anh Kiệm và anh Minh và mấy Công an viên xã Thiệu Viên tới mời chúng tôi ra Công an xã để làm việc. Tại đây các anh nói với chúng tôi rằng: "Ở Thiệu Viên không có Chúa, cũng không có đạo" vì vậy họ nghiêm cấm chúng tôi không được tới để thờ phượng Chúa. Họ yêu cầu chúng tôi về ngay.

(Trên thực tế, Hội Thánh Phúc Âm Toàn Vẹn Việt Nam đã có ở gia đình chị Mình từ năm 1999 và đã nhiều lần chị Minh báo cáo với chính quyền về nhu cầu tín ngưỡng của gia đình chị và đăng ký sinh hoạt nhưng xã Thiệu Viên không chấp nhận).

Tôi và anh Sĩ cùng chị Nhàn không về. Tôi nói với các anh ấy rằng các anh vô cớ mời chúng tôi rồi vô cớ tha chúng tôi về mà không có lý do, giấy tờ hay biên bản, tôi yêu cầu các anh ấy phải làm giấy tờ ghi rõ lý do và xác nhận là ở Thiệu Viên cấm sinh hoạt đạo Tin Lành.

Họ không cho và giữ chúng tôi đến chiều tối không cho ăn cơm trưa. Đến 16h30' Công an tách chúng tôi mỗi người một phòng lấy lời tường trình và thẩm vấn đe doạ, cấm đoán chúng tôi.

Đối với tôi, họ yêu cầu không được phép đến gia đình chị Minh để thờ phượng Chúa. Tôi nói: Luật pháp cho chúng tôi quyền tự do tín ngưỡng, các anh phải hướng dẫn chúng tôi sinh hoạt sao lại cấm chúng tôi. Khi tôi nói tới Chỉ thị số 01 và Nghị định số 22 của Chính phủ thì anh Nguyễn Mạnh Hoè - trưởng Công an xã Thiệu Viên túm áo tôi, rồi túm tóc tôi tát vào mặt tôi ba cái. Các công an viên cũng lao vào đấm xối xả vào mặt tôi, vào người tôi làm tôi bị tổn thương mắt, hiện mắt trái của tôi vẫn chưa mở được. Máu mặt tôi chảy ra rất nhiều. Khi đánh tôi xong, các anh sang phòng bên cạnh đánh anh Hắc Ngọc Sĩ, người cùng đi với tôi.

Đến 18h (hoặc 18h30'- lúc này mắt tôi không nhìn rõ) họ thả chúng tôi về trong tình trạng thương tích đầy người. Tôi đề nghị họ đưa chúng tôi về nhà chị Minh vì chúng tôi không thể tự đi được. Anh Hùng Công an viên xóm 6 đã đưa tôi và anh Sĩ tới ngõ nhà chị Minh để chúng tôi tự đi vào nhà.

Kính thưa quý vị: vì cớ tin Chúa, chúng tôi chấp nhận sự khinh bỉ của những người trái niềm tin. Tôi cũng bị đánh đập nhiều lần và lần này thì đáng buồn thay vì tôi và anh Sĩ bị đánh ngay tại trụ sở Công an xã Thiệu Viên - một cơ quan bảo vệ pháp luật (trước đây cũng có mấy anh chị em bị đánh ở đây).

Thưa quý vị: cách đây gần 2000 năm vì yêu nhân loại Chúa Giêxu đã đổ máu để cứu chuộc mọi người. Vì yêu dân tộc trong lịch sử Việt Nam không ít máu đã đổ xuống vì Độc lập, Dân tộc và Tự do Dân chủ.

Nay dưới chế độ được đặt tên là XHCN, dưới một đất nước hoàn toàn độc lập thì máu của tôi, của anh chị em tôi đã đổ vì niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo bởi bàn tay của những người bảo vệ pháp luật. Thật sự là đáng buồn cho dân tộc Việt Nam. Trong khi cả nước đang dốc lòng cho công cuộc xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng khối đoàn kết dân tộc, thì tại những địa phương như xã Thiệu Viên lại có những cán bộ công an, họ là đảng viên đảng Cộng sản xem thường luật pháp, chà đạp "chân lý", chia rẽ dân tộc. Và tôi cũng thật ngạc nhiên khi ông Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ ngoại giao đã phủ nhận sự thật trên trước câu hỏi của phóng viên Quốc tế.

Tôi xót xa khi viết những dòng này, chúng tôi cũng như hàng triệu người dân Việt Nam khác nay đã không còn tin vào đảng Cộng sản Việt Nam nữa. Bởi giữa lời nói và việc làm của đảng Cộng sản luôn luôn trái ngược nhau. Quí vị coi người dân chúng tôi là đối tượng để cai trị chứ không phải là đối tượng để Quí vị phục vụ. Quí vị nói mình là đầy tớ trung thành của nhân dân nhưng thực chất Quí vị lại không tôn trọng nhân dân.

Tôi viết thư này thiết tha thỉnh nguyện Quốc Hội, Chính phủ, và Ban Tôn Giáo Chính phủ, có những giải pháp cụ thể để chấm dứt những tình trạng phân biệt đối xử của chính quyền địa phương đối với các tín đồ Tin Lành nói riêng và các tôn giáo khác nói chung.

Tôi kính mong quý vị: có tiếng nói kịp thời về tỉnh Thanh Hoá, huyện Thiệu Hoá, xã Thiệu Viên, để Công an xã Thiệu Viên trả lại những tài sản mà trước kia họ đã vô cớ chiếm đoạt của các tín đồ Tin Lành như Kinh Thánh, xe đạp…; xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương hãy làm lại hộ khẩu gia đình và Chứng minh thư Nhân dân Tôn giáo Tin Lành cho gia đình tôi, để chúng tôi có thể tiếp tục sống, làm việc, đi lại và thực hiện tín ngưỡng của mình.

Tôi cầu nguyện Chúa tha thứ cho những người công an đã đánh đập tôi và mong các anh nhận ra khuyết điểm của mình, sớm ăn năn để tiếp tục phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được tốt hơn.

Xin cảm ơn quý vị đã đọc thư này. Tôi cầu nguyện Chúa Giêxu ban phước lành cho quý vị và gia đình./.

Quảng Yên ngày 19/6/2006
Nguyễn Trung Tôn

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Từ sợ hãi tới hành động


Sợ hãi là một đặc tính của muôn loài. Chính sự sợ hãi góp phần giúp cho mọi loài sinh tồn và phát triển. Riêng trong thế giới con người, sợ hãi khiến cho kẻ yếu hơn phải chọn giữa phục tùng kẻ mạnh hoặc phải kiếm giải pháp. Cùng lúc sợ hãi thường làm cho con người trở nên tàn nhẫn và/hoặc hèn nhát hơn; ích kỷ và vô cảm hơn. Nhưng trong một số trường hợp, sợ hãi lại cũng có thể làm người ta bật lên can đảm, mạnh mẽ.

Trong phạm vi bài viết ngắn này tôi chỉ xin đưa ra một vài nhận định về tình hình xã hội Việt Nam trong những năm gần đây liên quan tới “sự sợ hãi”.

Có thể nói đại đa số người dân ngày nay đều rất sợ Đảng Cộng sản và các phương tiện bạo hành của họ, kể cả bọn đầu gấu xã hội đen mà họ đang sử dụng ngày một thường hơn. Ngoài các trò bạo hành, dân còn sợ Đảng vì sợ bị trù dập, bị mất công ăn việc làm, bị mất nhà mất đất. Nhiều khi dân sợ chỉ vì họ chứng kiến cảnh Đảng đã xuống tay với những người xung
quanh họ.

Bởi nỗi sợ đó đa số người dân đã dần dần tự biến mình thành nô lệ cho Đảng Cộng sản một cách vô điều kiện. Từng lời nói, cử chỉ tới hành động đều phải giữ chừng, tự kiểm duyệt, tránh “phạm thượng” … Nói chung, ai nấy đều chỉ mong cuộc sống của bản thân mình và con cháu mình được "yên hàn". Gia đình "không có vấn đề", tức không đang bị Đảng trừng phạt, là thấy hạnh phúc rồi. Không trông đợi gì thêm từ Đảng.

Để đạt được mong muốn đó nhiều người đã chọn thái độ tung hô ca ngợi Đảng để được yên thân, bất kể trong lòng có bất mãn hay không. Một số khác thì còn cố gắng đề trở thành Đảng viên Cộng sản để có được cơ hội đổi đời. Và giữa 2 loại trên là những người chấp nhận làm tay sai cho Đảng với danh xưng “quần chúng tự phát” để nhận được chút tiền. Cả ba lối chọn lựa này đều làm cho con người đã "hèn" lại thêm "hạ".

Nhưng ngược lại, trong những năm tháng gần đây, không ít người đã vượt qua được nỗi sợ. Có người vượt được chỉ vì đã bị ép tới đường cùng, nôm na là tới mức "tức nước vỡ bờ". Rất nhiều trong số này là các bà con dân oan. Họ bị cướp đến tận cùng mọi phương tiện mưu sinh, phải sống lê lết trước những cửa quan để kêu oan, và bị xua đuổi từ văn phòng này sang cơ quan khác.

Cũng có nhiều người vượt được sợ hãi nhờ tiếng gọi của lương tâm. Nỗi sợ mất nước còn lớn hơn nỗi sợ bị Đảng Cộng sản trả thù. Họ sợ rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam sẽ hoàn toàn trở thành thuộc địa của Trung Quốc, đời con đời cháu của họ sẽ trở thành nô lệ hoàn toàn cho người Phương Bắc. Kế đến, sự khinh bỉ trước thái độ Hèn với giặc - Ác với dân của thành phần lãnh đạo Đảng cũng làm nỗi sợ Đảng bớt đi nhiều. Và thế là họ công khai thể hiện lòng yêu nước của mình bằng cách xuống đường phản đối Trung Quốc xâm lược bất kể Đảng có cho phép hay không. Rồi khi bị cấm quyền yêu nước, họ dạn dĩ tham gia các buổi phổ biến Quyền con người. Và cứ thế mà tiến tới.

Sau hết, nhiều người không chỉ vượt qua sợ hãi mà còn nhìn ra một thực tế khác. Chính lãnh đạo Đảng mới là những kẻ đang mang nhiều nỗi lo sợ hơn ai hết. Họ sợ sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến sự gia tăng nhận thức của người dân. Từ đó họ sợ những tội ác khủng khiếp của các chế độ cộng sản trên khắp thế giới và tại Việt Nam sẽ không còn có thể che đậy được nữa. Họ sợ toàn dân biết rõ con đường xây dựng CNXH là con đường hoang tưởng mà cả thế giới đã vất bỏ, đặc biệt ngay tại nơi sản sinh ra nó. Họ sợ từng hành động đánh, giết, khủng bố dân để bảo vệ chế độ từ nay sẽ bị chính người dân thu hình, thu âm, thu bằng chứng và lưu trữ để chờ ngày đưa họ ra tòa án nhân dân như tại các nước vừa đổi đời. Họ sợ các núi của cải vừa đào khoét được từ tài nguyên đất nước và cướp trắng của dân sẽ không giữ được. Và còn nhiều nỗi sợ khác nữa nhưng căn bản vẫn là: ĐẢNG SỢ CÁI NGÀY DÂN HẾT SỢ.

Điều dại dột của lãnh đạo Đảng, dù đã có thấy nhiều tấm gương từ Bungari đến Libya, là càng sợ thì lại càng cố che đậy bằng thái độ hùng hổ và nâng cấp bạo hành, thí dụ như từ chính sách làm ngơ cho công an đánh người nay đã nâng cấp đến mức chính thức cho công an bắn dân tại chỗ. Nhưng như đã thấy trên khắp thế giới, đến mức này thì dân càng bị dồn vào đường cùng sẽ càng tức nước vỡ bờ nhiều hơn và nhanh hơn mà thôi, cũng như hồ sơ tội ác của từng cán bộ ác ôn sẽ càng dày hơn thôi.

Tóm lại ở xã hội Việt Nam hiện nay có 3 loại sợ khác nhau:

1. Nỗi sợ của những kẻ đáng khinh. Họ chỉ lo mất ghế cai trị và khả năng tiếp tục nạo khoét đất nước. Nhưng càng sợ họ càng ác và càng sẵn sàng bán luôn đất nước; nghĩa là càng thu ngắn tuổi thọ của chế độ.

2. Nỗi sợ của những người đáng thương. Đây chính là đại khối đồng bào của tôi, những người đã phải sống cả đời trong đói khổ và bị bao trùm bởi trấn áp, đe dọa liên tục. Nhưng trong tay họ là sức mạnh toàn năng của dân tộc và là chìa khóa tương lai của đất nước.

3. Nỗi sợ của những vị đáng kính. Họ là những người không sợ gì cho chính mình nhưng lo nhiều cho các thế hệ tương lai và sinh mạng của đất nước. Lo đến nỗi họ sẵn sàng gạt sang một bên mọi thủ đoạn xách nhiễu, đe dọa, và trả thù hạ cấp của chế độ để bước ra tranh đấu công khai.

Xin cho tôi cùng với đại khối đồng bào tiến bước theo những ngọn đuốc lương tâm, những nhà trí thức đang chấp nhận đi đầu trên con đường gian nan để xóa sạch mọi nỗi sợ trên đất nước chúng ta.

Thanh Hóa 21/12/2013
Nguyễn Trung Tôn
Điện Thoại 01628387716

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Đảng Cộng Sản và con Cáo Cộ


Khi còn nhỏ, mỗi khi tôi khóc làm nũng thì bố mẹ và chị gái tôi cùng những người lớn thường dọa tôi: “Khóc là con Cáo Cộ nó bắt kìa”. Tôi chẳng biết Cáo Cộ là con gì, hình thù thế nào. Nhưng theo như người lớn nói thì tôi nghĩ rằng nó rất hung dữ và có thể bắt trẻ con để ăn thịt nên tôi rất sợ. Tôi sợ Cáo Cộ hơn cả sợ bố, mẹ, anh, chị. Thậm chí chỉ cần người lớn trạo giòng và nói “ Cáo Cộ” là tôi đã sợ tè cả ra quần.

Khổ nỗi tại Việt Nam bây giờ người dân còn phải sợ nhiều và sợ hơn con Cáo Cộ của tôi rất nhiều lần. Họ sợ từ công an, đến bác sỹ và mọi loại người dính tới Nhà nước. Mỗi khi bất đắc dĩ mà người dân phải rơi vào tay họ thì chắc chắn sẽ từ hao tiền tới mất mạng.

Ai không tin cứ thử cách đơn giản này. Xin cứ gặp bất cứ người dân nào hiện đang sinh sống bình thường ở bất kỳ miền nào và chi hỏi họ một câu: Bạn sợ nhất điều gì? Xác suất cao câu trả lời sẽ theo thứ tự: thứ nhất là sợ công an, thứ hai bác sỹ, thứ ba chính quyền. Dưới sự lãnh đạo
độc quyền “tài tình” của Đảng Cộng sản, những thành phần trên đã thực sự trở thành những con “ Cáo Cộ” mà khi nghe nhắc tới nhiều người đã phải tè... trong lòng.

Thời gian vừa qua khi tôi ra tù thì được tin Quốc hội Việt Nam đưa vấn để sửa đổi hiến pháp 1992 ra để cho dân góp ý. Tôi cứ nghĩ rằng ít nhiều đây cũng là cơ hội để quần chúng nhân dân đưa ra những ý kiến đóng góp thật lòng của mình để góp phần xây dưng một văn kiện pháp lý quan trọng cho vận mệnh của đất nước. Tôi đã được xem qua một số bản kiến nghị của một số cá nhân và tập thể và thấy rằng những đóng góp sửa đổi này thật sâu sắc và hợp tình hợp lý, thể hiện tinh thần trách nhiệm với tương lai đất nước. Điển hình như bản kiến nghị 72 hay bản kiến nghị của Hội đồng Giám mục Việt nam, ...

Nhưng, như chúng ta đã biết, ngay sau mỗi bản kiến nghị góp ý mang tính sâu xa và phù hợp thực tiễn, nguyện vọng của nhân dân xuất hiện, lập tức các đại diện Đảng, Nhà nước, Quốc hội lại có những lời phát biểu mang tính uy hiếp đe dọa nhân dân và xem những người có ý kiến góp ý chân tình là đối tượng “suy thoái” cần phải ngăn chặn xử lý. Sau cùng thì ông Tổng Lú lại thẳng thắn khẳng định rằng: Hiến pháp là cương lĩnh thứ hai của Đảng cộng sản. Vây nếu Hiến pháp là cương lĩnh của Đảng thì sao ông Nguyễn Sinh Hùng lại dám vượt mặt Đảng để đưa ra dân lấy ý kiến? Nếu là cương lĩnh của Đảng thì chỉ Đảng của các ông bàn thảo thôi chứ; sao lại lừa mỵ nhân dân và quốc tế như vậy?

Và sau những nạt nộ đó, đảng viên lại im bặt; đại biểu Quốc hội lại im bặt; nhân dân nói chung cũng im bặt. Ấy mới biết rằng trẻ con sợ Cáo Cộ thế nào thì nhiều người dân Việt Nam ngày nay cũng sợ Đảng cộng sản như vậy. Loài cáo thường ẩn mình trong bụi rậm để chờ khi con người sơ hở là chúng đột nhập để bắt gà bắt vịt; còn Đảng Cộng sản hôm nay thì nấp mình trong cái chủ nghĩa Mác-Lê và bản Hiến Pháp độc quyền để tìm mọi cơ hội ăn cướp của nhân dân. Điều hơi lạ là: trong khi trẻ con nghe tới Cáo Cộ thì sợ rúm vì không biết mặt mũi loài cáo thế nào, nhưng  người lớn thì đã thấy quá rõ bộ mặt của Đảng Cộng sản rồi sao vẫn còn sợ?

Có phải người ta sợ vì chúng có khả năng cướp nhà, cướp đất của dân, ăn chặn cả tiền xương máu của người đã chết? Chẳng còn gì mà chúng không đục khóet của nhân dân. Chúng nhượng  cả đất đai, tài nguyên, biển đảo cho ngoại bang để kiếm lời…

Nhưng nếu cứ ngồi yên trong sợ hãi chúng ta sẽ tiếp tục mất thêm nhiều nữa. Đất nước mất thêm lãnh thổ, chủ quyền. Dân mất thêm từ tài sản đến tính mạng. Đã đến lúc chúng ta học lại cái tiến trình đã giúp mình vượt qua nỗi sợ Cáo Cộ khi còn nhỏ. Đối với tôi, nhận thức 'bất kể loài cáo nào, dù to lớn tới đâu, thì chúng vẫn chỉ là loài cáo, không thể hơn người được' đã giúp tôi vượt qua nỗi sợ. Và nay, với cùng hướng suy nghĩ đó, tôi thấy rằng: Dù núp dưới danh nghĩa hay mỹ từ gì thì lãnh đạo Đảng cộng sản vẫn đang là kẻ cướp đối với dân tộc Việt Nam. Họ cướp đi tất cả những gì đương nhiên thuộc về mỗi người Việt Nam, mà quan trọng nhất là các quyền con người và đặc biệt quyền tự cai trị lấy đất nước của mình qua lá phiếu dân chủ. Càng ngày lãnh đạo đảng càng khó che giấu bản chất "kẻ cướp" của họ trước mắt tập thể đảng viên và nhân dân bất kể nỗ lực của Ban Tuyên giáo, của guồng máy tuyên truyền, của cả trăm ngàn dư luận viên và công an mạng, ....

Đã đến lúc chúng ta cần thấy rõ nỗi sợ trong lòng những người biết họ chỉ là những "kẻ cướp" ở đất nước này. Xin hãy làm người lớn thật sự, đứng thẳng lưng trên quê hương CỦA CHÚNG TA. Đừng cứ mãi sợ Đảng như trẻ con sợ Cáo Cộ nữa.

Thanh hóa
2/12/2013
Nguyễn Trung Tôn
ĐT 01628387716

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Chính sách an sinh xã hội trong nền dân chủ giả hiệu



An sinh xã hội là chính sách nhằm bảo đảm mức sống và các dịch vụ tối thiểu cho đại khối dân chúng, và góp phần giảm bớt sự chênh lệch giầu nghèo quá lớn trong xã hội. Nhưng tại Việt Nam hiện nay thì chính sách này lại là một trong những nguyên nhân gây ra thêm nhiều mâu thuẫn và uất hận trong xã hội. Nó còn tạo ra nhiều cơ hội cho những kẻ đục nước béo cò vơ vét ngân sách nhà nước.

Một trong những nhức nhối lớn nhất gần đây về dân sinh là vấn đề y đức. Mức bê tha của đạo đức trong ngành y đã đến độ báo động liên tục và vô cùng cấp bách. Sau những vụ việc gây chấn động dư luận trong tháng 10 còn chưa lắng xuống thì sáng ngày 5/11/2013, cháu Hồ Thị Trinh hơn 2 tháng tuổi ở Hướng Hóa Quảng Trị lại phải nhập viện vì đã bị tiêm chủng loại vaccine Quinvaxem “5 trong 1” tại Trạm y tế xã A Dơi trước đó. Cháu đã tử vong vào ngày 10/11.
( http://m.danviet.vn/thoi-su/sau-tiem-vaccine-quinvaxem-mot-be-gai-tu-vong/20131111040431214p1c24.htm ).
Rồi tiếp theo là trường hợp chị Nguyễn Thị Hương (SN 1988, thôn 6, xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) đã tử vong do bị các bác sĩ cắt ruột thừa nhầm phải ruột già.
( http://baophapluat.vn/chan-dong-du-luan/bac-sy-cat-nham-ruot-gia-khien-benh-nhan-tu-vong-169401.html).

Trong những năm gần đây, người dân được nghe nhiều chính sách mới của nhà nước mà theo các tuyên bố là nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp bách trong lĩnh vực an sinh xã hội như: Xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, ưu đãi người có công cách mạng, trợ cấp cho người cao tuổi,  trợ cấp cho người khuyết tật… Trên giấy tờ tất cả nghe đều hay, đều tốt. Nhưng trên thực tế thì các chương trình này chỉ tạo cơ hội cho những người có chức có quyền ăn bẩn ngân sách quốc gia, và lại tạo thêm bất mãn trong nhân dân vì ngân sách đó chính là tiền thuế vắt ra từ dân. Tóm tắt là dân đã nghèo nay lại phải nộp thêm tiền cho cán bộ giàu, nhân danh các dịch vụ an sinh xã hội  mà người dân không được hưởng.

Đây là tình trạng bất trị vì kẻ lập ra chương trình, cung cấp ngân khoản cho chương trình, thực hiện chương trình, và thanh tra việc thực hiện đều cùng là một nhóm và đã ăn đồng chia đều với nhau. Không có bộ phận độc lập nào có thể xen vào. Một hệ lụy đặc biệt nguy hại của hệ thống "đá bóng kiêm thổi còi" này là hiện tượng "hàng giả". Hàng giả bao gồm cả thuốc giả, bằng bác sĩ giả, điểm thi bác sĩ giả, giờ trực bệnh viện giả, giấy chứng thương, chứng tử giả, v.v....

Một cách tóm tắt, trong xã hội không có dân chủ đa nguyên, các tệ nạn cứ ngày một trầm trọng vì những kẻ cai trị không thể tự giải phẫu; và người dân, không có quyền gì trong tay, chỉ có 2 con đường, đó là hối lộ hay cắn răng chịu đựng.

Ngay cả khi không trông nhờ gì vào nhà nước và kiếm sống hoàn toàn bằng sức lao động của chính mình, người dân vẫn không thoát nổi cái lưới tham nhũng, o ép của những kẻ nắm quyền. Xin kể một thí dụ nhỏ mà một người bạn tôi ở Đồng Nai, làm việc trong nhà máy mía đường La Ngà, kể cho tôi biết. Ở quê anh người dân trồng mía bán cho nhà máy mía đường La Ngà, khi mía tới tuổi thu hoạch thì phải cắt trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu thu hoạch muộn thì mía sẽ bị kém chất lượng. Khối lượng cũng bị hao hụt. Giá thành bị giảm xuống vì mía ra bông và có bấc. Không những thế, việc thu hoạc muộn còn ảnh hưởng tới thời vụ sản xuất của năm sau. Bởi lý do đó, gia đình nông dân nào cũng mong bán ngay khi thời vụ tới. Tuy nhiên vì diện tích trồng mía của cả vùng rất rộng nên không phải muốn bán là bán được ngay, kể cả việc bán theo giá kinh tế thị trường. Các gia đình cán bộ đang có chức có quyền luôn là người được bán mía trước, còn bà con nông dân phải chấp nhận bán sau. Vì vậy lại sinh ra nạn đút lót chạy chọt để bán mía trước. Gia đình nào không có khả năng chạy chọt thì phải chấp nhận thiệt thòi. Người dân nghèo không ai dám ra mặt lên tiếng vì sợ bị trả thù.

Vì những lý do như vậy nên xã hội càng ngày càng có khoảng cách giầu nghèo gia tăng giữa những người có chức có quyền và những người cúi đầu chấp nhận đi bằng đầu gối. Hỡi những người dân Việt Nam yêu kính, chúng ta chấp nhận sống kiểu này thêm bao nhiêu lâu nữa, thêm bao nhiêu đời con đời cháu nữa? Đến bao giờ chúng ta mới dám phản đối những trò bóc lột mới nhân danh "an sinh xã hội", mới dám tiễn đưa chủ nghĩa cộng sản về với Các Mác, Lê Nin, để xây dựng một nền dân chủ thật sự của dân, do dân và vì dân?

Thanh hóa ngày 13/11/2013
Nguyễn Trung Tôn

Đt 01628387716